Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2020

Cách để luyện dịch tiếng Hàn sang tiếng Việt

Để đọc hiểu và dịch hợp lý giữa hai ngôn ngữ Hàn Việt thì sự phân biệt: sự khác biệt trong cấu trúc câu Hàn – Việt; mối quan hệ giữa các vế; vế chính, vế phụ. (Trích từ cô Lê Vân Anh- Hà Nội)

1. Sự khác biệt trong cấu trúc Hàn – Việt


Cấu trúc trong tiếng Việt: S + V + O
Cấu trúc Hàn: S + O + V
Để dịch từ Hàn – Việt thì chủ ngữ chính (nằm ở đầu câu) và động từ chính (nằm ở cuối câu) được dịch trước; tân ngữ (nằm ở giữa câu) dịch cuối.
Ví dụ:
모든 세대가 텔레비전보다 신문을 더 많이 본다
Xác định
Chủ ngữ: 모든 세대가 – Tất cả các thế hệ
Động từ chính: 본다 – xem
Tân ngữ: 신물을 – báo
Phó từ: 더 많이 – nhiều hơn
Phó từ: 텔레비전보다 – hơn tivi
Dịch câu theo đúng trật tự sang tiếng Việt:
모든 세대가 텔레비전보다 신문을 더 많이 본다
모든 세대가 / 본다/ 신문을/ 더 많이/ 텔레비전보다
Tất cả các thế hệ đều xem báo nhiều hơn xem tivi.

2. Mối quan hệ giữa các vế câu

Mối quan hệ giữa các vế như
– Nguyên nhân kết quả (Vì … nên … = 아/어서 hoặc (으)니까…)
– Mục đích (Để mà … = 기 위해서 hoặc (으)려고…)
– Giả định (Nếu … thì … = (으)면…)
– Bổ sung (Không những … mà còn … = (으)ㄹ 뿐만 아니라…)
Như vậy trong nhiều trường hợp thứ tự sắp xếp giữa các vế câu tiếng Hàn giống với sắp xếp vế câu tiếng Việt thế nên chỉ cần xác định của mối quan hệ các vế và lần lượt dịch từng vế và ghép vào là được.
Ví dụ
악보를 외우면 작곡가를 좀 더 이해하게 되어 결국 작품에 대한 표현력이 풍성해질 수 있다.
Xác định mối quan hệ giả định 외우면 > (으)면, mối quan hệ nguyên nhân kết quả 되어 > 아/어(서)
Trật tự các vế:
~(으)면 ~아/어(서) ~: Nếu … thì … thế nên …
Dịch
악보를 외우면: Nếu thuộc lòng bản nhạc
작곡가를 좀 더 이해하게 되어: thì sẽ hiểu hơn về tác giả
결국 작품에 대한 표현력이 풍성해질 수 있다: thế nên (điều đó) cuối cùng sẽ làm phong phú khả năng thể hiện tác phẩm

3. Vế chính, vế phụ

Trong khuôn khổ bài này thì mình chỉ nói đến một loại vế phụ là loại cụm danh từ, danh từ được tính từ hoặc động từ bổ nghĩa.
Cấu trúc tiếng Hàn: V/A 은/는/을 N
Cấu trúc tiếng Việt: N (mà) V/A
Vậy nên để dịch các cụm danh từ này từ Hàn sang Việt thì phải dịch ngược từ danh từ rồi mới đến mệnh đề bổ nghĩa.
Ví dụ:
요즘 꽃차를 즐겨 마시는 사람들이 늘고 있다.
Chủ ngữ: 사람들이 – những người
Vị ngữ: 늘고 있다 – đang tăng
Trong chủ ngữ ta lại thấy cụm danh từ 꽃차를 즐겨 마시는 사람들 (trong đó 사람들: danh từ được bổ nghĩa, 꽃차를 즐겨 마시다: cụm động từ bổ nghĩa)
Dịch ngược: 꽃차를 즐겨 마시는 사람들 – những người mà thích uống trà hoa
Dịch câu theo đúng trật tự sang tiếng Việt:
요즘 꽃차를 즐겨 마시는 사람들이 늘고 있다.
요즘/ 사람들이/ 꽃차를 즐겨 마시는/ 늘고 있다
Gần đây những người mà thích uống trà hoa đang tăng lên.
✥Tổng kết:
 Dựa vào số lượng các động từ để xác định số lượng các vế câu
 Dựa vào ý nghĩa ngữ pháp của các vĩ tố kết hợp với động từ 아/어서, (으)면, 다가 để xác định mối quan hệ giữa các vế câu từ đó đưa ra được đâu là vế chính, đâu là vế phụ
 Cuối cùng là sắp xếp lại theo đúng trật tự tiếng Việt.
Ví dụ:
서울대학교 의과대학 본과 4학년 때 선택의학 과목으로 기생충을 선택했다가 남은 생을 기생충과 함께하기로 마음먹은 그는, 현재 단국대학교 의과대학에서 기생충학을 가르치고 있다.
Xác định
Chủ ngữ chính: 그는 – Anh ấy
Động từ chính: 가르치고 있다 – đang dạy
Tân ngữ: 기생충학을 – môn ký sinh trùng
Ta được vế chính:
그는 현재 단국대학교 의과대학에서 기생충학을 가르치고 있다.
그는/ 현재/ 가르치고 있다/ 기생충학을/ 단국대학교 의과대학에서/
Anh ấy hiện tại đang dạy môn ký sinh trùng tại Đại học Y – Đại học Danguk.
Tuy nhiên trong chủ ngữ 그는 lại được bổ sung nghĩa
서울대학교 의과대학 본과 4학년 때 선택의학 과목으로 기생충을 선택했다가 남은 생을 기생충과 함께하기로 마음먹은 그는
Vậy thì toàn bộ phần phía trước 그는 ta dịch theo bình thường và khi ghép vào thì nó sẽ nằm sau danh từ 그는 – Anh ấy
Dịch vế câu bổ nghĩa:
서울대학교 의과대학 본과 4학년 때 선택의학 과목으로 기생충을 선택했다가 남은 생을 기생충과 함께하기로 마음먹은:
Ngữ pháp
~ 때 thể hiện thời gian:
서울대학교 의과대학 본과 4학년 때 – Khi học khóa chính quy 4 năm tại Đại học Y – Đại học Seoul,
~ 았/었다가 thể hiện trật tự hành động trước, sau trong quá khứ:
선택의학 과목으로 기생충을 선택했다가 – Đã chọn môn kí sinh trùng là môn học tự chọn rồi sau đó
~V기로 마음먹다 quyết tâm làm gì
남은 생을 기생충과 함께하기로 마음먹은 – Đã quyết tâm dành cả đời còn lại làm viêc cùng với ký sinh trùng.
Dịch cả câu theo đúng trật tự tiếng Việt:
서울대학교 의과대학 본과 4학년 때 선택의학 과목으로 기생충을 선택했다가 남은 생을 기생충과 함께하기로 마음먹은 그는, 현재 단국대학교 의과대학에서 기생충학을 가르치고 있다.
그는/ 서울대학교 의과대학 본과 4학년 때 / 선택의학 과목으로 기생충을 선택했다가 / 남은 생을 기생충과 함께하기로 마음먹은/ 현재 / 가르치고 있다/ 기생충학을 / 단국대학교 의과대학에서.
Ạnh ấy, người mà khi học 4 năm chính quy tại Đại học Y – Đại học Seoul đã chọn môn ký sinh trùng là môn học tự chọn và sau đó đã quyết tâm dành cả đời còn lại làm việc cùng với ký sinh trùng, hiện tại đang giảng dạy môn ký sinh trùng tại Đại học Y Đại học Danguk.
Tuy nhiên là có thể thấy vế bổ sung nghĩa cho danh từ 그는 giải thích về thời trước khi anh ta còn đi học còn vế chính giải thích cho hiện tại anh ấy đang dạy học thì trong tiếng Việt các hành động này hoàn toàn có thể liệt kê theo thứ tự thời gian.
Hoặc mình tách làm 2 câu vì cho rằng cả hai vế đều có mối quan hệ tuyến tính hoàn toàn có thể liệt kê thành từng câu riêng mà không phá hỏng tầm quan trọng của các vế tác giả đưa ra.
Khi học khóa chính quy 4 năm tại Đại học Y – Đại học Seoul, anh ấy đã chọn môn ký sinh trùng là môn hoc tự chọn, từ đó anh đã quyết tâm dành phần đời còn lại để làm việc cùng với ký sinh trùng. Anh hiện nay đang giảng dạy môn ký sinh trùng tại trường Đại học Y – Đại học Danguk.
Hy vọng bài viết này giúp các bạn hiểu rõ về cách đọc – hiểu – dịch những câu tiếng Hàn dài.”

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2020

ĐOẠN VĂN HAY - TIẾNG HÀN

학창시절 내내 (trong suốt thời đi học) 서울 생활을 꿈궜던 나는 대학에 합격하면서 그토록 (đến mức) 바라던 서울에서 살게 되었다. 
시간제 (tại thời điểm đó) 아르바이트를 하는 것만으로는 생활하기가 빠듯해서 (eo hẹp, vừa đủ)늘 허덕거려야 했다 ( bấp bênh, lảo đảo). 당연히 어머니와의 전화 통화는 주로 돈 이야기가 되어 버렸다. 
"아휴, 여기서 대학 다녔으면 그렇게 돈 걱정은 안 해도 됐을걸. 서울까지 가서 마음 편히 공부도 못하고. 어마가 제데로 도와주지 못해 미안해."
어머니가 고생하는 딸이( con gái vất vả, khổ sở)  안쓰러워서 (day dứt/ áy náy)하는 말에 눈물이 핑 돈 ( nước mắt rưng rưng)  적도 있었다. 전액 창학금을 주겠다는 지방 대학을 포기하고 택한 (lựa chọn ) 서울행이었다 (chuyến tàu đến seoul). 그런데 매번 돈타령이나 ( sự ca cẩm về tiền bạc) 하면서  가뜩이나 (vốn đã .. mà lại)  형편이 (hoàn cảnh)  어려운 부모님에게 마음의 부담만 더한이 (rối rắm) 된 것 같았다.
 Tác giả: Anna

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2020

THUẬT NGỮ TIẾNG ANH NGHỀ NHÂN SỰ

C&B viết tắt từ Compensation & Benefit, chỉ bộ phận chịu trách nhiệm về lương và chế độ phúc lợi của nhân viên. C&B biến giá trị công việc thành giá trị thực tế, quy đổi chúng thành lương và các loại chế độ phúc lợi khác. Tùy vào chính sách của từng công ty mà C&B sẽ có thang tính toán sao cho phù hợp nhất.

TỪ VỰNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH DỊCH THUẬT HÀN VIỆT

하층회사하청회사 hay 하청업체
=> Theo mình nghĩ là vendor cấp dưới, nghĩa là mình giao dịch với nhà cung cấp A, xong nhà cung cấp A đó giao dịch với công ty B (để lấy nguồn hàng/phụ tùng nào đó và sẽ bán lại cho mình), thì gọi cty B là 하층회사
하청회사 thì mình gặp chứ 하층회사 thì chưa gặp bao giờ. 하청회사: +  nếu là lĩnh vực xây dựng thì gọi là nhà thầu phụ 
+  dạng công ty gia công cho các công ty lớn (như samsung) thì gọi là Vendor cấp 1, cấp 2
* Nhân tiện lưu lại phân biệt Vendor và  Supplier?

► Vendor là gì?

Vendor (nhà cung cấp) – là cá nhân/ tổ chức bán hàng hóa – dịch vụ cho cá nhân hoặc tổ chức khác trong chuỗi sản xuất kinh tế; với mục đích của sản phẩm – dịch vụ được Vendor cung cấp là để tiêu dùng. Vendor có thể bán hàng hóa theo hình thức B2B (doanh nghiệp cho doanh nghiệp), B2C (doanh nghiệp cho người tiêu dùng) hoặc B2G (doanh nghiệp cho chính phủ). Đây là một thuật ngữ nằm trong quy trình quản lý chuỗi cung ứng.
Ví dụ nhà sản xuất linh kiện, phụ tùng xe máy là vendor cung cấp hàng cho những nhà sản xuất khác, lắp ráp các bộ phận trở thành xe máy - rồi bán cho nhà bán buôn hoặc bán lẻ.​ Các siêu thị cũng là một dạng vendor mua sản phẩm từ nhà sản xuất và bán cho người tiêu dùng.​
► Phân biệt Vendor với Supplier
Trên thực tế, Vendor và Supplier khi dịch sang tiếng Việt đều được hiểu với ý nghĩa là nhà cung cấp – tuy nhiên, trong quy trình quản lý chuỗi cung ứng, vai trò của Vendor và Supplier hoàn toàn khác nhau.
Sơ đồ quy trình chuỗi cung ứng gồm:
Supplier -> Manufacturer -> Distributor -> Vendor -> Customer
(Nhà cung cấp -> Nhà sản xuất -> Nhà phân phối -> Nhà cung cấp -> Khách hàng)
Chúng ta có thể phân biệt Vendor và Supplier dựa trên các tiêu chí sau:
Tiêu chí so sánh
Vendor
Supplier
Ý nghĩa
Vendor là cá nhân/ tổ chức, bán hàng hóa – dịch vụ với giá cụ thể cho khách hàng.
Supplier là cá nhân/ tổ chức cung cấp nguyên vật liệu hàng hóa hoặc dịch vụ theo yêu cầu của doanh nghiệp.
Vị trí liên kết trong chuỗi cung ứng
Cuối cùng
Đầu tiên
Mục tiêu
Bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng
Để phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa
Mục đích bán hàng
Sử dụng
Bán lại
Số lượng cung cấp
Nhỏ
Lớn

Cả Vendor và Supplier đều đóng vai trò trung gian trong chuỗi cung ứng. Sự khác biệt chính giữa Vendor và Supplier nằm ở mục đích bán hàng, tức là khi hàng hóa được bán cho bên khác nhằm mục đích bán lại - sẽ được gọi là Supplier. Tương tự như vậy, khi cung cấp hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, thì nhà cung cấp đó được gọi là vendor.

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2020

THỦ THUẬT TÌM KIẾM TRÊN GOOGLE

1. Dùng dấu ngoặc kép “ “ để tìm kiếm chính xác từ khóa nằm trong đó theo một trật tự chính xác.
Ví dụ: “inbound marketing”
2. Dùng dấu cộng “+” dùng kết hợp để tìm cụ thể một từ khóa nào đó và bắt buộc có trong kết quả tìm kiếm.
Ví dụ: inbound marketing +advertising
Lưu ý: Bạn phải đặt dấu “+” sát từ khóa, không có khoảng trống.
3. Dùng dấu trừ “-” để loại bỏ một kết quả nào đó khỏi kết quả tìm kiếm của bạn.
Lưu ý: Bạn phải đặt dấu “-” sát từ khóa, không có khoảng trống.
Ví dụ: inbound marketing -advertising
4. Dùng dấu ngã “~” để tìm một từ trong tìm kiếm và các kết quả có chứa các từ tương tự hoặc từ đồng nghĩa.
Ví dụ: "inbound marketing" ~ professional
5. Dùng “OR” hoặc dấu “I” để tìm kiếm 1 trong 2 từ khóa
Ví dụ: inbound marketing OR advertising
6. Toán tử “..” được dùng để tìm khoảng giữa các con số.
7. Dấu sao “*” để tìm kiếm với cụm từ mình không biết rõ.
Lưu ý: Dấu * có thể đứng trước, đứng giữa, đứng sau từ khóa cần tìm.
8. Cú pháp “site:” khi bạn chỉ muốn tìm riêng một trong một trang web cụ thể nào.
9. Cú pháp “related:” để tìm ra được những trang web có nội dung liên quan
10. Cú pháp “allintext:” để tìm tất cả các từ có trong truy vấn và CHỈ ở trong nội dung của website (phần text).
11. Cú pháp “cache:” dùng để xem lại bản cache đã được Google lưu lại.
12. Cú pháp “filetype:” dùng để tìm chính xác loại file: doc, pdf, mp3, zip, xls,...
13. Cú pháp “define:” dùng để tra định nghĩa của các từ, cụm từ.
Lưu ý dùng trên Google.com, trên Google.com.vn không hiểu cú pháp này.
14. Cú pháp “inurl:”để tìm từ khóa trong đường dẫn.
15. Cú pháp “allinurl:” nếu muốn tuyệt đối tất cả các từ khóa đều phải xuất hiện trong đường dẫn.
16. Cú pháp “allintitle:” dùng để tìm tất cả các từ có trong truy vấn và CHỈ ở trong tiêu đề của website (title).
17. Cú pháp “intitle:” có ý nghĩa tương tự allintitle và là con của allintitle. Thường được kết hợp với từ khóa trước hoặc sau nó.
--------------

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2020

LẤY CHỒNG NÊN CHĂNG?

Dạo này dân mạng rộn ràng tin thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khuyến khích thanh niên nên kết hôn trước tuổi 30. Mình nghe mà cũng phấn chấn háo hức. Ngay lập tức "gái ế" đem tuổi đẻ cộng vô để được 31- rồi khoe với mẹ và một vài chị em (bạn bè), con thuộc đối tượng vượt khung của Bộ nên "miễn lấy chồng" luôn nha, đừng ai hỏi tui "bao giờ lấy chồng?" nữa nha. Giờ tui không còn là hàng trưng bày nữa mà hết đát đem vô kho rồi. 
Lạ không bà con? Gái ế 30 năm, chưa chính thức lập khế ước một cuộc tình, chưa nắm tay trai nào để chụp ảnh khoe thiên hạ cho thiên hạ hờn còn vui hơn là được ai đó tặng quà.
Thực ra, vì tôi tự lập khế "không bán thân" cho anh nào và "không thỏa hiệp" với bất kỳ ai để bước vào "cuộc chinh chiến- đồng phục lấy chồng" cho ai lớn rồi cũng phải gả đi.
Thực ra tui không phải là cô gái ghét, dị ứng, vô cảm với việc lấy chồng mà chẳng qua chẳng thể rung động được với anh nào. Bởi gặp tiếp xúc cánh đàn ông từ trong nhà ra đến ngoài cửa , đa số thất vọng tràn trề. Nòa là troai chuyên đổ lỗi, không giữ được mình trong trắng, thủy chung với vợ; nào là trai chỉ biết bè chẳng biết vợ con; nào là trai không có chính kiến; rồi là trai gia trưởng- mình luôn đúng, người khác luôn sai; hay còn nữa là trai lười mà hay tỏ vẻ; còn nữa chuyện này mới thú vị " troai mình thích thì không thích mình", "troai thích mình thì mình bỏ chạy vì không ưng được cái nết nói điêu"; thậm chí "troai mình thích chỉ dám đứng từ xa ngắm mà chẳng dám ló mặt thổ lộ hay với tới. Luôn tiện phải nhắc đến thể loại troai ích kỷ , rồi troai ở dơ, rồi troai vô trách nhiệm; troai chỉ thích đàn đúm cờ bac, rượu chè, gái gú; có cả troai ậm ờ, không rõ ràng, dứt khoát;  thêm luôn troai ỷ lại và ca đau là troai với cấu hình bản mặt nhìn ngược xuôi không thể yêu cho được...
Đủ trăm lý do để tui trở thành gái ế.
Nói đến đây, các bạn nghĩ tiêu chuẩn tui cao. Nhưng thực ra tui để ý đến nhiều trai không cờ bạc, nhậu nhẹt, thuốc lá, giỏi giang, chí tiến thủ, thấu hiểu, sẻ chia, trách nhiệm cao vời vợi, yêu thương nâng niu phụ nữ ,...thì khi ấy TUI KHÔNG ĐỦ TIÊU CHUẨN. Tóc thưa, mũi tẹt, răng cời, mày sẹo, mí bớt, bụng mỡ, tay to, bắp đùi gà, chân cột đình, cao 1m48, giọng nặng lai tạp Bắc Trung Nam, giả giả thấy ghét với người Trung, khó nghe với người Nam, khó hiểu với người Bắc; Sở hữu nụ cười hài hài trên khuôn mặt, mỗi khi cười mím chi là y răng nhăn khóe mắt tuổi tác dân lên từng gợn..Nhưng Tổng thể nhìn Ổn. Đến lượt bên trong- chậm chạm, lơ ngơ, nhớ qua loa, học hành lẹt đẹt trung trung, tiền có rồi  đi đâu chẳng rõ, ...rứa chơ lại hay nghĩ mình giỏi lắm, trách nhiệm lắm, hòa đồng lắm và có nhiều bạn tốt lắm. Thêm bệnh nặng mà trai ghét tui cực- Hay ra vẻ dạy đời! Xấu xa hơn là quặo số 1, đá hết vứt hết. TÔ đậm cho nét xấu xí là đã mở miệng là chỉ có sát thương lên người khác.
Đấy, các bạn xem. Tui hội tụ đủ điều như thế thì bước vô diện "Ế" là chuẩn. Mà cái hay nha, biết giá trị bản thân lắm nên sẵn sàng từ chối trai tốt- vì sợ làm xước và đau lòng cuộc hôn nhân của họ; né trai xấu vì sợ mất mát vì họ...
Cho nên an bài rõ quay lại Yêu mình- đẹp mình- sung sướng mình- tự do mình. Dù sao đây là cái có thể chọn Hạnh phúc ích kỷ một cách hứng khởi!!!
P/s: Đó đó, đọc đến đây biết câu trả lời của tui nên hay không nên lấy chồng rồi hen. Nhưng tui khuyến khích mấy thím quanh tui : Có cơ hội thì hãy lấy chồng đi! Để tự hào khoe Gái dũng cảm đủ trải nghiệm trên đời vô mặt mấy đứa nhu nhược, trốn tránh việc Lấy chồng.
 (à mà nói nghe, tui cũng hay có tượng tượng ngày gặp trai nào đó- ôm hắn cái- nắm tay cái- thấy ấm áp- chờ hắn Ngõ lờ- tui sẽ lên thuyền với Hắn ^^)

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2020

CỤM TỪ THƯỜNG DÙNG- TIẾNG HÀN

천천히 마셔 = Uống từ từ thôi.
가 = Đi đi.
빨리 가. = Đi nhanh đi.
천천히 가. = Đi chậm thôi.
약속해. = Hứa đi.
해봐. = Thử đi.
입어봐. = Mặc thử đi.
내기해. = Cá đi.
닥쳐! = Im đi!
대답해. = Trả lời đi.
타. = Lên xe đi.
집에 가. = Đi về đi.
안심해. = Yên tâm đi.
항복해. = Chịu thua đi.
그냥 넘어가. = Bỏ qua đi.
인정해. = Thừa nhận đi.
늦었어, 일어나.=Trễ rồi, dậy đi.
병원으로 데려가. = Đưa đi bệnh viện đi.
말해. = Nói đi.
한턱 쏴. = Đãi đi.
샤워해. = Đi tắm đi.
준비해. = Chuẩn bị đi. = Sửa soạn đi.
더 생각해봐. = Cứ suy nghĩ đi.
학교 가. = Đi học đi.
내 말 들어. = Nghe lời tôi đi.
앉아. = Ngồi xuống đi.
Nếu sử dụng '...해' cho người không thân thiện thì gây mất lịch sự.
가다...갈 수 있다...có thể đi
서다...설 수 있다...có thể đứng
오다...올 수 있다...có thể đến
하다...할 수 있다...có thể làm
자다...잘 수 있다...có thể ngủ
사다...살 수 있다...có thể mua
보다...볼 수 있다...có thể xem
쓰다...쓸 수 있다...có thể viết
뛰다...뛸 수 있다...có thể chạy
타다...탈 수 있다...có thể lên xe
켜다...켤 수 있다...có thể bật
끄다...끌 수 있다...có thể tắt
팔다...팔 수 있다...có thể bán
살다...살 수 있다...có thể sống
밀다...밀 수 있다...có thể đẩy
읽다...읽을 수 있다...có thể đọc
먹다...먹을 수 있다...có thể ăn
웃다...웃을 수 있다...có thể cười
닦다...닦을 수 있다...có thể lau
잡다...잡을 수 있다...có thể nắm
죽다...죽을 수 있다...có thể chết
앉다...앉을 수 있다...có thể ngồi
말하다...말할 수 있다...có thể nói
마시다...마실 수 있다...có thể uống
만나다...만날 수 있다...có thể gặp
건너다...건널 수 있다...có thể qua
내리다...내릴 수 있다...có thể xuống xe
달리다...달릴 수 있다...có thể chạy
일하다...일할 수 있다...có thể làm việc
만지다...만질 수 있다...có thể chạm
죽이다...죽일 수 있다...có thể giết chết
때리다...때릴 수 있다...có thể đánh
던지다...던질 수 있다...có thể ném
예쁘다...예쁠 수 있다...có thể đẹp
좋아하다...좋아할 수 있다...có thể thích
싫어하다...싫어할 수 있다...có thể ghét
운동하다...운동할 수 있다...có thể tập thể dục
수영하다...수영할 수 있다...có thể bơi
축구하다...축구할 수 있다...có thể bóng đá
공부하다...공부할 수 있다...có thể học
운전하다...운전할 수 있다...có thể lái xe
샤워하다...샤워할 수 있다...có thể tắm
시작하다...시작할 수 있다...có thể bắt đầu
사랑하다...사랑할 수 있다...có thể yêu
결혼하다...결혼할 수 있다...có thể kết hôn
이해하다...이해할 수 있다...có thể hiểu
우리는 한국어를 읽을 수 있어요.=Chúng ta có thể đọc tiếng Hàn.
Lần sau tôi sẽ đăng lên 'không thể...할 수 없다' nha.
또 만나요. Hẹn gặp lại.
아저씨 : chú, bác
라고 부르다 : gọi là
순간(즉시) : ngay lập tức
서비스 : phục vụ
얄짤없다 : không thể tha thứ được, không có khả năng
총각 : chàng trai
일동 : đội
빠를수록 좋다 = càng sớm càng tốt
마실수록 취한다 = càng uống càng say
일할수록 피곤하다 = càng làm càng mệt
예쁠수록 도도하다 = càng đẹp càng chảnh
넌 볼수록 예뻐 = Em càng nhìn càng đẹp
김치는 오래될수록 맛있어 = Kimchi càng lâu càng ngon
너를 사랑할수록 오빠는 행복해 = càng yêu em anh càng hạnh phúc
여러분 안녕하세요 Chào các bạn.
어디에 가세요? Bạn đi đâu đấy?
같이 가요. Mình đi chung nhé.
저는 한국인입니다.=Tôi là người Hàn Quốc.
저는 Jo 입니다.=Tôi là Jo.
저는 한국에서 온 Jo 입니다.=Tôi là Jo đến từ Hàn Quốc.
잘부탁드립니다.=Mong nhận được sự quan tâm.
긍정걱으로 생각해 ● Hãy suy nghĩ tích cực đi
해봐! ● Làm thử xem
너를 믿어요 ● Tôi tin vào bạn
너의 방식대로 해 ● Hãy làm theo cách thức của bạn
최선을 다해 ● Hãy cố hết sức mình
다시 한번 해봐 ● Làm thử lại lần nữa xem
넌 할 수 있어요 ● Bạn có thể làm được mà
틀림없이 넌 할 수 있어요 ● Chắc chắn là bạn có thể làm được
Nguồn Sưu Tầm

TỪ VỰNG TIẾNG HÀN - CHỦ ĐỀ DU LỊCH

1. 델타: vùng châu thổ
2. 석회암동굴: hang đá vôi
3. 계획을 세우다: lên kế hoạch
4. 일정을 짜다: lập lịch trình
5. 도착하다: đến nơi
6. 입국하다: nhập cảnh
7. 여권: hộ chiếu
8. 비자: visa, thị thực
9. 항공권: vé máy bay
10. 여행자 수표: ngân phiếu du lịch
11. 여행자 보험: bảo hiểm du lịch
12. 숙박 시설: chỗ ở
13. 성수기: mùa cao điểm
14. 비수기: mùa vắng khách
15. 세계문화유산: di sản văn hoá thế giới
Nguồn : memrise.com

➽[Đọc thêm]
1. Bộ tài liệu hay về Topik (bit.ly/TheTopik)
2. Bộ đề Topik tổng hợp các năm (bit.ly/TopikList)
3. Sách.Pdf Hán Hàn 2000 từ (bit.ly/2200TuHanHan)
4. 30 Bài luyện nghe tiếng Hàn kèm dịch từ giáo trình Seoul (bit.ly/Mp3Seoul)
5. Cách để luyện dịch tiếng Hàn câu dài (bit.ly/LuyenDich-TiengHan-Chuan)
6. Lịch thi TOPIK trong năm 2020 (bit.ly/TOPIK2020)
7. 39 Bài luyện nghe sơ cấp - Kèm dịch (bit.ly/SocapMp3)
8. Mẫu & phân tích một số dạng 쓰기 TOPIK (bit.ly/TOPIK-Viet)
9. Nghe & kèm dịch giải đề nghe TOPIK kì 41 (http://bit.ly/TOPIK41)
10. Nghe & kèm dịch giải đề nghe TOPIK kì 47 (http://bit.ly/TOPIK47)

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2020

CẢM NHẬN XEM PHIM ITAEWON CLASS (이태원 클라쓰)

1. 이태원 클라쓰 Nghĩa là gì?

- Tiếng Việt: Tầng lớp Itaewon hay có thể được dịch là Lớp học Itaewon. Tên phim gắn liền với địa danh Itaewon  ở thủ đô Seoul Hàn Quốc. Và đây là khu phố Tây nổi tiếng ở Hàn Quốc với đa dạng sắc tộc, màu da. Là khu mua sắm sầm uất như chợ Bến Thành, là khu quán nhậu sôi động về đêm như Bùi Viện, thành phố Hồ Chí Minh.
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A7ng_l%E1%BB%9Bp_Itaewon)

2. Nội dung phim:

 Bộ phim chuyển thể từ webtoon của tác giả kiêm biên kịch Jo Gwang Jin
 Đây là bộ phim nói về một nhóm bạn trẻ có hoàn cảnh xuất thân khác nhau- nhưng điểm chung là trong tâm hồn họ bị khuyết đi một phần tình cảm của người thân và bị xã hội xem thường. Những bạn trẻ này đã vươn lên, vượt ra khỏi định kiến xã hội để tìm được chỗ đứng cho mình, theo đuổi cuộc sống cạnh tranh công bằng, tự do.
Phim được công chiếu từ ngày 31 tháng 1 năm 2020 cho đến tập cuối vào ngày 21 tháng 3 cùng năm.
Có thể liên tưởng bộ phim phản ánh chân thực về bối cảnh xã hội Hàn Quốc có sự phân biệt giữa tầng lớp "thìa đất" và "thìa vàng".

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2020

""bỏ mặc" hay "tha thứ"?



Dạo này mình băn khoăn giữa cái đạo luẩn quẩn, nên "bỏ mặc" hay "tha thứ"? Thực tế thì "bỏ mặc" không phải là cắt đứt quan hệ hoàn toàn, mà để cho đối phương tự giải quyết vấn đề, không góp ý, không giúp đỡ. Tự giải quyết vấn đề ở đây sẽ có nguy cơ xảy ra những hậu quả tiêu cực, thậm chí là mất tính mạng. Nhưng nếu đưa tay vào giúp đỡ, trong lúc đối phương chưa nhận rõ mình sai ở đâu? Vẫn chưa chịu mở miệng chấp nhận sai và thể hiện quyết tâm thay đổi. Vậy việc giúp đỡ khác nào "dung túng bao che cho lỗi lầm", khác nào trái tim Mỵ Châu đặt nhầm chỗ? Bản tính đối phương xưa này vốn nóng nảy và không kiên định, thích hưởng thụ, tò mò nhưng lại có trách nhiệm. Tuy nhiên trách nhiệm lại chỉ đặt trong đối ngoại, còn đối nội- chữ trách nhiệm còn mơ hồ. Vậy nên tin hay không nên tin?

Nhiều lần thử trò chuyện để hiểu về đối phương, mấy nét phác họa được rút ra: Bản tính ham vui, ham chơi cờ bạc, tửu trà, trăng hoa,...hiếu kỳ muốn thử mọi thứ trên đời của đối phương là không thể thay đổi. Đặc biệt, đối tượng đang bỏ mặc bản thân sống hưởng thụ cho hết tháng ngày, không còn mục tiêu sống, cống hiến, xây dựng vì đối tưởng đã đi qua mọt đời người. Nói đến đây, nhìn lại quá khứ của đối tượng thì thấy rằng, ông ta đã cống hiến, phấn đấu nhiệt huyết nhưng không chạm đến hư danh lãnh đạo trong sự nghiệp. Và ông nghĩ, việc không đến được công danh trong sự nghiệp là do vợ ông không giỏi giang. Nhưng ông chưa bao giờ nghĩ chính bản thân ông thiếu năng lực lãnh đạo. Ông đang giỏi chuyên môn - ai cũng công nhận điều đó- nhưng thần thái của một lãnh đạo "không ngoan"- người ta không thấy ở ông. Vì thế, ông không được nâng đỡ. Ông oán hận người gần gũi với ông; ông đã từng có ô che chở nhưng ông chẳng được hưởng lợi? và giả sử khi đó ông được nắm giữ một chức danh- người ta sẽ nói nhờ vào người A ông mới được như vậy thì chắc hẳn lòng tự trọng của ông bị xúc phạm. Chung quy, ông muốn người khác công nhận năng lực và cho ông một chức danh- để khoe khoang- để tự hào nhưng ông không đủ "khôn khéo" để có người nâng đỡ. Thậm chí, ông quá thẳng thắn và xem thường người như ông. Ông thiếu khiêm tốn thấy được ưu điểm của người khác. Thiếu tĩnh lặng để tự vấn bản thân thiếu, cần cái gì?

Hiện tại, con người ông là sự đỗ lỗi, oán hận, trách cứ...? Trong lúc đó, ông đa nghi với mọi mối quan hệ gần gũi. Người giúp ông chỉ ra chỗ sai- ông nghĩ hại ông và ngược lại người khen, nịnh bợ ông- ông nghĩ là giúp ông.

Ông thay đổi một cách kỳ lạ. Khi không được đáp ứng yêu cầu, ông lại làm tổn thương người gần gũi ông, ông đe dọa. Khi có đủ điều kiện sung sướng, ông lại tìm đến bạn bè cờ bạc, trà tửu.

Ông không muốn người khác xem thường ông, nhưng chính hành xử của ông lại khiến người khác không tôn trọng và lợi dụng ông.

Ông không đủ dứt khoát để từ chối lời mời mọc, rủ rê. Nhưng đủ lạnh nhạt để không quan tâm đến người thân bên cạnh.

Cho nên có thể nói con người ông là một chuỗi đặt nhầm chỗ về ý thức rạch ròi cho gia đình- xã hội.