Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

Quốc tân # Quốc

 Dùng "Quốc khách" có đúng không?

1. Trong tiếng Việt, có hai từ chỉ khách là "khách" và "tân", cùng là từ Hán - Việt. "Khách" viết là 客 và "Tân" viết là 賓. Tuy cùng chỉ khách khứa nhưng cách dùng khác nhau.
"Khách" (客) vốn là đối nghĩa với chủ, tức là ai đó không phải chủ nhà. Một người khác đến nhà gọi là khách nhưng là khách đến không do mời. Có thể là đi ngang rẽ vào. Khách sạn chính là nơi cho khách đi đường tự vào thuê phòng ở vậy.
"Tân" (賓) thì khác. Cũng là khách nhưng là khách do chủ mời đến, hoặc dù không mời mà đến nhưng là người mình mong, mình quý, họ tự đến mình cũng trọng thị đón tiếp.
Chữ "tân" có vẻ là khá lạ lẫm với người Việt ta, nhiều khi lại chỉ biết tân là mới. Chữ tân - khách này ta hay dùng chữ "lễ tân" chính là chỉ sự lễ, quy trình đối đãi với khách, tiếp tân là tiếp khách vậy. Chú ý là tiếp tân chỉ là 1 khâu cực nhỏ trong quy trình lễ tân thôi.
2. Xét về mức độ thì "khách" là khách thường, "tân" mới là khách quý.
Cái ý này có chiết tự vui là:
Chữ Tân(賓) là gồm bộ Miên - nhà "宀", chữ Thiếu - ít (少) và chữ Bối - của cải (貝) tạo thành. Ý là ngôi nhà ít của nả có khách mang tài vận đến. Thế là khách quý.
Còn chữ Khách (客) là gồm chữ Các - mỗi (各) và chữ Tri -theo (夂) và Khẩu - miệng(口) hợp lại mà thành. Ý là khách vác mỗi cái mồm đến, tốn cơm tốn bát.
Phòng tiếp khách, cho khách ở cũng theo đó mà phân biệt. Phòng cho khách ở thì có khách phòng (客房) và tân phòng (賓房), phòng tiếp khách thì có khách thất (客室) và tân thất (賓室). Triêu Tiên, Hàn Quốc không dùng từ tân phòng (賓房, 빈방) vì nó đồng âm với từ phòng trống không người (빈房).
3. Khách đến thăm nước ta đều do ta mời, và đều là khách quý cả. Do vậy, ta phải dùng chữ "Tân", dùng đầy đủ là "Quốc tân" (國賓). Tất cả các nước dùng chữ Hán, từ Hán đều dùng chữ Quốc tân này. Triêu, Hàn gọi là 국빈.
Chữ "quốc" (國) là chỉ cấp Nhà nước. Thế nên có chữ "quốc" rồi thì tuyệt đối không phải đối tượng không mời mà đến, càng không phải khách thường. Không có cái gọi là "Quốc khách".
=> Do vậy, cứ nói nôm na là vị khách đầu tiên của Chủ tịch nước, hoặc thích nói chữ thì nói là vị quốc tân đầu tiên của Chủ tịch nước.
https://www.facebook.com/chuc.duong.71/posts/pfbid0TtKfG2QG6KhhWovDU3rYH8ZR7RnSGAzW6zBh6WbNNjdhAJj3kKdzWQzFCD9k5zxLl

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

VIẾT 54

 

⭕️ Nguyên tắc: BÁM SÁT CÂU HỎI ĐỀ BÀI
Đề bài thường sẽ đưa ra 3 câu hỏi, tương ứng với 3 đoạn: Mở, Thân, Kết. Bám sát 3 câu hỏi này sẽ giúp thí sinh hình dung rõ bố cục và nội dung từng đoạn, tránh lạc đề và tiết kiệm thời gian.

CÂU HỎI 1 - Mở bài: 1.창의력은 중요한 이유는 무엇인가?
Ở đây, cách triển khai ý nhanh nhất là đưa ra định nghĩa của bản thân về 창의력 và nêu lý do vì sao nó quan trọng. Nên gói gọn trong 5 dòng đầu của 원고지, thời gian tối đa 3p.
-VD tham khảo:
✍🏻 Cơ bản: 창의력이란 새로운 생각을 해내는 힘이다. 그렇기 때문에 경제, 정치, 사회, 과학 기술 등 모든 분야 발전에 창의력은 항상 중요한 역할을 한다.
✍🏻 Nâng cao: 창의력은 가치있고 실현 가능한 독창적 사고나 산출물로서 문제를 해결할 수 있는 능력이라고 할 수 있다. 따사서 창의력은 미래를 지향하는 사회 및 국가발전의 원동력으로 우리 삶의 질을 향상시키는 데 직접적인 영향을 준다는 점에서 중요성이 크다고 본다.

CÂU HỎI 2 - Thân bài: 창의력을 발휘했을 때 얻을 수 있는 성과는 무엇인가?
Với câu hỏi này, thí sinh nên đưa ra 3 luận điểm nếu không thể đi sâu phân tích. Ngược lại thì chỉ cần 2 luận điểm là đủ. Thời gian tối đa cho cả đoạn là 12p.
-VD tham khảo: 창의력을 발휘하면 다음과 같은 3가지 성과를 얻을 수 있다고 생각한다.1️⃣ 먼저 삶의 질과 수준의 향상에 도움이 될 것이다. 창의력이 새로운 혁신을 만들고 이 새로운 혁신이 기존 문제들을 해결할 수 있으면 실제에 적용되어 우리 삶의 질과 수준이 향상되기 마련이다.2️⃣ 또한 창의력은 변화의 시작을 형성한다. 생활 수준을 향상시키는 것 외에 창의력은 사회의 새로운 변화를 시작하는 데 유용하다. 창의력의 결과는 새롭고 이전에 없었던 아이디어, 기술 및 결과물이기 때문이다.3️⃣ 마지막으로 창의적인 생각이 습관화되면 사업의 성공을 이끌어낼 수 있다. 경쟁이 치열한 산업사회에서 기업이나 사업이 성공하려면 창의력이 넘치는 사람이 없어서는 안 된다. 이유는 창의적인 아이디어 및 방식으로 실제 수요에 부응하면서 기업 또는 사업의 특색을 살려야 수많은 경쟁사를 이길 수 있기 때문이다.

CÂU HỎI 3 - Kết bài: 창의력은 발휘할 수 있는 방법은 무엇인가?
Liệt kê 3-4 hoạt động trong đời sống hàng ngày mà bạn nghĩ giúp ích cho khả năng sáng tạo. Kết bài có thể viết ngắn hoặc dài tùy theo số dòng còn lại trong 원고지. Nếu thấy Mở bài, Thân bài hơi ngắn, thí sinh có thể liệt kê thêm nhiều hoạt động. Trong trường hợp này, độ dài của Kết bài có thể bằng hoặc dài hơn Thân bài ở trên. Thời gian tối đa cho cả đoạn là 10p.
-VD: 일상생활에서 창의력을 발휘할 수 있는 활동/방법이 참으로 많다. 1️⃣ 그 중에서 독서 습관을 중요하게 생각한다. 다양한 장르와 스타일의 책을 선택하여 시야를 넓히면 창의력도 강화하게 되기 때문이다.2️⃣ 또한 새로운 취미를 찾는 것도 창의력을 발휘하는 데 좋은 방법이다. 자극이 되는 새로운 상황과 마주했을 때 생각은 스스로 확장되어 창의력을 발휘하게 된다. 도전해 볼 수 있는 활동으로는 사진 강좌, 새로운 악기 배우기, 어려운 요리 레시피 도전하기 등이 있다.3️⃣ 그 외에 참신한 아이디어를 생각하도록 하는 두뇌훈련 활동이나 게임을 자주 하는 것도 좋다. 예를 들어, 두 단어를 적어 연상 게임을 할 수 있다. 비유를 사용하여 겉보기에 서로 다른 두 가지 사이의 유사점을 찾아서 각각의 연관성을 분석하고 조사하는 것이다. ➡️ 이렇게 다양한 방법으로 계속 하다 보면 생활 방식을 변경하여 창의력을 향상시키는 데 효과가 분명히 있을 것이라고 본다.

☝🏼Lưu ý: Vừa viết vừa để ý lỗi chính tả, 뛰어쓰기 chuẩn trong 원고지. Luôn kết thúc câu bằng đuôi văn Viết: Động từ + 는다/ㄴ다 ; Tính từ + 다.

Phần thi Viết bao giờ cũng là phần khó với nhiều người. Để bài Viết đạt điểm cao, cần chú ý nguyên tắc cơ bản và phân bổ thời gian hợp lý, tránh trường hợp 'đầu voi đuôi chuột', Mở bài rất hay nhưng không có thời gian để viết nốt Thân & Kết bài. 
Ẩn bớt

PHÂN BIỆT 참석, 참가, 참여

 Buổi sáng đầu tuần vui vẻ nha mọi người 

🙂
Hôm nay mình sẽ chỉ cho các bạn cách phân biệt 3 từ mà mình thấy mọi người rất hay nhầm.
Với cách giải thích ở dưới, mình đảm bảo mọi người sẽ không bao giờ nhầm nữa đâu nha ^^:

1. 참석하다: chỉ việc đến 1 sự kiện và ngồi xem sự kiện đó diễn ra (모임이나 회의 따위의 자리에 참여함, 출석하는 것을 의미함). Mọi người để ý từ 석 ở đây chính là 자리, ý là đến ngồi điểm danh tham gia sự kiện đó :)))))
VD: 착공식/백일잔치/장례식/결혼식에 참석하다

2. 참여하다: 어떤 일에 끼어들어 관계함, 그 일의 진행 과정에 개입해 있음 (là cùng làm, cùng góp sức hoặc thực hiện công việc trong cả quá trình)
VD: 입찰/동아리 활동/봉사에 참여하다

3. 참가하다: 단순한 출석의 의미가 아니라 ‘참여’의 단계로 들어가는 과정을 나타내는 것 (Là việc đến địa điểm tổ chức chương trình, trận đấu hay buổi họp với tư cách người chơi, người tham gia sự kiện v.v.. Mức độ tham gia thấp hơn so với 참여하다)
VD: 소송/박람회/올림픽에 참가하다 
Ẩn bớt

MẪU CHÚC

 Hôm nay đã là ngày cuối cùng của năm 2022 rồi. Cùng nhau lưu lại 5 mẫu câu chúc Tết sau để gửi sếp, thầy cô, bạn bè, đối tác người Hàn Quốc thôi nào các bạn. Tiêu chí chúc Tết ngắn gọn nhưng vẫn đầy đủ hàm ý, tinh tế & lịch sự ha 

😁
1: 2023년 토끼해의 기운을 받아 멀리 도약할 수 있는 한 해가 되시길 소망합니다.
2: 힘들고 지쳤던 지난해는 잊고 2023년 새해에는 행복과 웃음이 가득하시길 소망합니다.
3: 계묘년 토끼해를 맞이하여 가정 내 행복과 웃음이 넘치는 한 해 보내시기를 소망합니다
4: 지난 한 해 동안 베풀어주신 은혜, 관심, 도움에 감사드립니다. 올 한해도 가정에 평안과 행복이 가득하시기를 바랍니다.
5: 2023년 계묘년 새해에는 무엇보다도 건강하시고 바라시는 모든 일 소원 성취하시길 기원합니다.

Chúc mọi người năm mới vạn sự như ý, an khang thịnh vượng, mạnh khỏe hạnh phúc nha


TỪ VỰNG NGOẠI

 Hôm trước có bạn học viên cũ hỏi về một số chức vụ trong đại sứ quán, nghĩ có thể nhiều bạn sẽ cần nên mình tổng hợp lại những từ vựng Hàn-Việt về Hàm ngoại giao cho mọi người.


Ở đây hàm Tham tán và Tuỳ viên sẽ phụ trách từng lĩnh vực cụ thể.
VD:
Tham tán chính trị(정치참사관),
Tham tán kinh tế(경제참사관),
Tuỳ viên khoa học(과학관),
Tuỳ viên thương mại(상무관),
Tuỳ viên quân sự(주재무관 또는 국방부관)

Vậy thì với hàm Tham tán công sứ, các bạn sẽ dịch là gì sang tiếng Hàn? 





Thứ Hai, 6 tháng 2, 2023

TỪ VỰNG CHUYÊN NGÀNH THỊT HEO

 


[Tiếng Hàn chuyên ngành thịt hêu ~.~]
Chủ quán cho 2 chân dài và 1 em dân tộc thiểu số 😂🤭!!
1. 돈 (豚) là Lợn - Vào siêu thị nếu thấy 한돈 thì là thịt lợn Hàn, không phải lợn ngoại
2. 콩팥 ("Đậu đỏ con heo") là cật aka thận con lợn
3. 허파 ("Húp heo") là phổi lợn
4. 암뽕 ("Con cá chép đen đủi") là tràng lợn
5. 장족 ("Chân dài") là chân giò
6. 미니족 ("Dân tộc thiểu số") là móng giò
7. 사골 ("Xương bò") Xương ống


Thứ Ba, 6 tháng 12, 2022

이상은 (+) 공무도하가(公無渡河歌)/ 국악한마당 - THƠ CỔ ĐIỂN HQ/ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG HÀN









님아 님아 내 님아 물을 건너가지 마오

님아 님아 내 님아 그예 물을 건너시네
아~ 물에 휩쓸려 돌아가시니
아~ 가신님을 어이 할꼬
公無渡河(공무도하)
公竟渡河(공경도하)
墮河而死(타하이사)
當奈公何(당내공하)

님아 님아 내 님아 나를 두고 가지마오
님아 님아 내 님아 그예 물을 건너시네
아~ 물에 휩쓸려 돌아가시니
아~ 가신님을 어이 할꼬

公無渡河(공무도하) 公竟渡河(공경도하)
墮河而死(타하이사) 當奈公何(당내공하)
公無渡河(공무도하) 公竟渡河(공경도하)
墮河而死(타하이사) 當奈公何(당내공하)
公無渡河(공무도하) 公竟渡河(공경도하)
墮河而死(타하이사) 當奈公何(당내공하)
公無渡河(공무도하) 公竟渡河(공경도하)

님아 님아 내 님아 물을 건너가지마오
님아 님아 내 님아 그예 물을 건너시네~

Chú thích: 공무도하: tên người  vợ của người thợ mỏ thất nghiệp ( 백수광부)

Tóm tắt câu chuyện: 
Người thợ mỏ thất nghiệp, tay cầm chai rượu đi ra bờ sông. Người vợ đuổi theo, ông ta cứ thể lội xuống sông, người vợ cản không được. Cuối cùng thợ mỏ điên chết. Chứng kiến cảnh đó, vợ cất lên lời ca ai oán , khóc than rồi cũng tự tử chết theo. Người đánh cá gần đấy thấy về kể lại với vợ, vợ ông ca lên khúc ca, rồi kể cho hàng xóm gần đấy nghe -> lan truyền. 

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2022

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC PHÁT ÂM TIẾNG HÀN ĐỐI VỚI SINH VIÊN VIỆT NAM NĂM I, NĂM II

 NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC PHÁT ÂM TIẾNG HÀN

ĐỐI VỚI SINH VIÊN VIỆT NAM NĂM I, NĂM II
ThS. Đỗ Ngọc Luyến
BM Hàn Quốc học
ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn Tp.HCM
I. Sự cần thiết của việc dạy và học phát âm chính xác ngay từ khi mới học vỡ lòng.
Ngày nay việc học ngoại ngữ không còn xa lạ đối với người Việt Nam nữa. Một người Việt có thể sữ dụng hai, ba ngoại ngữ là việc bình thường. Tuy nhiên việc học tốt ngoại ngữ không dừng lại ở việc biết nhiều ngữ pháp, nhiều từ vựng và dùng câu chính xác mà nó còn phải thể hiện ở chỗ dùng câu tự nhiên như người bản xứ, đặc biệt là khi nói phải phát âm tự nhiên như người bản xứ thì mới được đánh giá là giỏi ngoại ngữ.
Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu vì thế khi người Việt học ngoại ngữ rất dễ bị ảnh hưởng của tiếng Việt và phát âm sai dẫn tới hiểu lầm trong câu nói. Và nếu những lỗi phát âm này không được chấn chỉnh ngay từ khi mới bắt đầu học ngoại ngữ thì nó sẽ trở thành lỗi không thể sửa được. Và nếu người học phát âm sai sẽ dẫn tới viết sai, gây trở ngại cho việc trao đổi thông tin.
II. So sánh giữa hệ thống âm tiếng Việt và tiếng Hàn.
1. Nguyên âm
Trong tiếng Việt có 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi /ie/, /uo/, /ƜƏ/, trong tiếng Hàn có 10 nguyên âm đơn và 11 nguyên âm đôi được chia thành 3 nhóm: nhóm nguyên âm đôi bán âm j (ㅑ, ㅕ, ㅛ, ㅠ, ㅒ, ㅖ), nhóm nguyên âm đôi bán âm w (ㅘ, ㅝ, ㅙ, ㅞ, ㅚ, ㅟ) và nhóm ㅢ
1.1 . Nguyên âm đơn
Bảng so sánh nguyên âm đơn trong tiếng Việt và tiếng Hàn: Tiếng Hàn bên trái, tiếng Việt bên phải.
Vị trí của lưỡi
Độ nâng của lưỡi Trước Sau
Không tròn môi Tròn môi Không tròn môi Tròn môi
Cao ㅣ (i) ㅟ ㅡ (ư) ㅜ (u)
Trung bình ㅔ (ê) ㅚ ㅓ (ơ,â) ㅗ (ô)
Thấp ㅐ (e) ㅏ (a,ă) (o)
1.2. Nguyên âm đôi.
a) Tiếng Việt
- Trong tiếng Việt có 3 nguyên âm đôi, mỗi nguyên âm có hai cách viết, tùy theo phía sau nó có âm cuối hay không và phát âm lần lượt.
Ví dụ:
1) Viết thành ia,ưa,ua khi không có phụ âm cuối. (chưa, mua, bia)
2) Viết thành iê, ươ, uô khi sau chúng có phụ âm cuối.(muốn, mượn, tiền)
- Và chữ i trong nguyên âm iê được viết thành y khi trước nó có âm đệm u.
Ví dụ: Khuya, khuyên.
b) Tiếng Hàn.
- Khi phát âm nguyên âm đôi bán âm j thì bắt đầu từ vị trí y (ㅣ) sau đó đọc tiếp tục các âm đi kèm theo.
Ví dụ: Khi phát âmㅑ(ya) , thì bắt đầu từ âm ‘y’ sau đó đến ‘a’ để tạo thành âm ‘ya’.
- Khi phát âm nguyên âm đôi bán âm ‘w’ thì môi tròn và phát âm bắt đầu từ ‘ㅗ/ㅜ’ (ô/u) sau đó đến các âm tiếp theo.
Ví dụ: Khi phát âm ‘워’(u∂) thì bắt đầu từ “w’ sau đó đến ‘∂’ để tạo thành âm ‘u∂’
- Trong các nguyên âm đơn trong tiếng Hàn thì âm ‘ㅢ’ là âm có nhiều cách phát âm khác nhau (‘ㅢ’(ưi), ‘ㅣ’(i), ‘ㅔ’(ê) )tùy thuộc vào vị trí của nó trong từ.
Ví dụ:
+ Khi phát âm 의사, ‘의’ nằm ở vị trí đầu tiên của từ và không có một phụ âm nào đứng trước nó thì nó được phát âm 의 (ưi)
+ Khi phát âm 희망 hoặc 강의실, thì ‘의’ nằm sau 1 phụ âm ㅎ và sau 강, nên nó được phát âm là ‘ㅣ’(i)
+ Khi phát âm 1 từ chỉ sở hữu như 선생님의 집 thì ‘의’ thường được đọc là 에 nhưng cũng có khi đọc là 의.
Nguyên âm trong tiếng Hàn và tiếng Việt dù là đơn hay đôi thì cũng không có sự khác biệt lớn, vì vậy khi người Việt học tiếng Hàn thì ít mắc phải lỗi nguyên âm.
2. Phụ âm
Tiếng Hàn Tiếng Việt So sánh
ㄱ Phụ âm này trong tiếng Hàn có cách phát âm giữa ‘kh’ & ‘k’ trong tiếng Việt nhưng nếu phụ âm này nằm phía sau các phát âm khác trong cùng 1 từ thì được phát âm giữa ‘g’ & ‘k’ và có 1 thanh trầm.
ㄴ n Giống với ‘n’ trong tiếng Việt.
ㄷ Phụ âm này trong tiếng Hàn có cách phát âm giữa ‘th’ & ‘t’ trong tiếng Việt nhưng nếu phụ âm này nằm phía sau các phát âm khác trong cùng 1 từ thì được phát âm giữa ‘đ’ & ‘t’ và có 1 thanh trầm.
ㄸ Là âm tắt và có cách đọc giống như âm ‘t’ của tiếng Việt nhưng phải đọc căng và bỏng.
ㄹ r Giống với cách phát âm của phụ âm ‘r’ trong tiếng Việt.
ㅁ m Giống với cách phát âm của phụ âm ‘m’ trong tiếng Việt.
ㅂ Phụ âm này trong tiếng Hàn có cách phát âm gần giống như ‘p’ trong tiếng Việt nhưng nếu phụ âm này nằm phía sau các phát âm khác trong cùng 1 từ thì được phát âm giữa ‘b’ và trầm
ㅃ Là âm tắt và có cách phát âm giống như âm ‘b’ của tiếng Việt nhưng phải đọc căng và bỏng
ㅅ Phụ âm này có cách đọc giống âm ‘x’ trong tiếng Việt nhưng độ cọ xát của lưỡi và môi ít hơn ‘x’ và bỏng
ㅆ Là 1 âm tắt và có cách phát âm giống với ‘x’ của tiếng Việt nhưng phải đọc căng và bỏng
ㅇ Phụ âm này khi đứng sau nguyên âm thì được phát âm giống như phụ âm cuối ‘ng’
ㅈ Phụ âm này trong tiếng Hàn có cách phát âm giữa ‘ch’ & ‘gi’ trong tiếng Việt và trầm.
ㅉ Là âm tắt và có cách đọc giống âm ‘ch’ trong tiếng Việt nhưng vì là âm tắt nên phải đọc căng và bỏng.
ㅊ Là âm bật hơi và có cách đọc giống như âm ‘ch’ trong tiếng Việt nhưng vì là âm bật hơi, nên lượng hơi bị chặng lại ở đầu lưỡi và răng trên răng dưới sau đó phát ra ngoài và bỏng.
ㅋ kh Là âm bật hơi và có phát âm giống như âm ‘kh’ trong tiếng Việt nhưng đọc mạnh và hơi nhiều hơn chữ ‘kh’ trong tiếng Việt.
ㅌ th Là âm bật hơi và có phát âm giống như âm ‘th’ trong tiếng Việt nhưng đọc mạnh và hơi nhiều hơn chữ ‘th’ trong tiếng Việt.
ㅍ ph Là âm bật hơi và có phát âm giống như âm ‘ph’ trong tiếng Việt nhưng đọc mạnh và hơi nhiều hơn chữ ‘ph’ trong tiếng Việt.
ㅎ h Giống như âm ‘h’ trong tiếng Việt nhưng lượng hơi nhiều hơn ‘h’ trong tiếng Việt.
3. Ngữ điệu
- Trong tiếng Việt có 6 thanh điệu và ngữ điệu thể hiện qua thanh điệu.
Ví dụ: Mẹ đi vắng.
- Trong tiếng Hàn thì không có thanh điệu nhưng có ngữ điệu (trầm- low, bỏng-high)
Ví dụ:
나는 어머니를 좋아해요.
LH LHLH LHLH
- Với những trường hợp các từ bắt đầu bằng các âm tắt và âm bật hơi thì theo quy tắc bỏng bỏng trầm bỏng.
Ví dụ:
할머니는 선생님이셨다.
HHLH HHLHHL
- Và trong tiếng Hàn có đặc trưng là âm ở cuối câu đọc dài hơn những âm khác trong câu, và các mệnh đề được phân biệt nhau qua cách ngắt cuối mệnh đề.
Ví dụ:
낮말은 새가 듣고 밤말은 쥐가 듣는다.
LHH HHLL LHH LH LLL
- Thông thường thì tùy vào tính chất của câu mà âm ở cuối câu sẽ đọc bỏng lên hay đọc trầm xuống.
+ Trong câu hỏi có từ để hỏi (cái gì, ở đâu, như thế nào…) thì âm ở cuối câu có khuynh hướng đọc trầm (low)
Ví dụ: 무슨 음식을 좋아합니까↘? (Bạn thích thức ăn gì?)
+ Trong câu hỏi có, không thì âm ở cuối câu có khuynh hướng đọc bỏng (high)
Ví dụ; 수업이 재미있습니까↗? (Lớp học có vui không?)
Chính vì âm trầm bỏng trong tiếng Hàn không theo 1 quy tắc cố định vì vậy nên đối với những người sử dụng tiếng mẹ đẻ là tiếng có thanh điệu và ngữ điệu thường thể hiện trên thanh điệu như tiếng Việt khi phát âm tiếng Hàn rất khó để mà cảm nhận cho đúng những trầm bỏng trong tiếng Hàn.
III. Những lỗi phát âm mà sinh viên Việt Nam thường mắc phải và nguyên nhân của chúng.
Dựa vào kết quả thu thập tài liệu ghi âm bài đọc tiếng Hàn của sinh viên năm II, ngành Hàn Quốc học từ tháng 9 năm 2006 đến tháng 5 năm 2007 thì sinh viên thường mắc những lỗi phát âm như sau:
1. Lỗi phát âm nguyên âm
Như đã phân tích ở phần II thì nguyên âm trong tiếng Việt và tiếng Hàn rất giống nhau nên sinh viên thường ít mắc lỗi nguyên âm .Tuy nhiên do có 1 số nguyên âm đôi trong tiếng Hàn có cách đọc khác với chữ viết nên đôi khi sinh viên mắc lỗi.
1.1. Lỗi phát âm nguyên âm ‘의’
Như đã trình bày ở phần II thì với nguyên âm này có 3 cách đọc và khi đọc trong bài thì sinh viên không phân biệt từng trường hợp và mắc lỗi như sau:
a) 적군들의 이야기를 들었어요. => “의” được phát thành “이”.
b) 희망합니다. => ‘의’ được phát thành ‘의’.
1.2 Lỗi phát âm nguyên âm ‘외’
Trong tiếng Hàn nguyên âm ‘ㅚ’ (oe) vừa được xem là nguyên âm đôi, vừa được xem là nguyên âm đơn nên sinh viên khi phát âm dễ phân tích thành ‘ㅗ’ kết hợp với ‘l’
Ví dụ: 최선을 다하겠습니다 => ‘ㅚ’ được đọc thành ‘ㅗㅣ’
2. Lỗi phát âm phụ âm
2.1 . Không phân biệt được âm tắt, âm thường và âm bật hơi.
2.1.1 ㄱ, ㄲ, ㅋ
Như đã phân tích ở phần II thì trong tiếng Việt chỉ có phụ âm ‘k’, ‘c’, hoăc ‘kh’ nhưng trong tiếng Hàn phụ âm ‘ㄱ’ có cách phát âm, giữa ‘k’ và ‘kh’ trong tiếng Việt và phụ âm ‘ㄲ’ có phần giống âm ‘k’ trong tiếng Việt nhưng là vì âm tắt nên cần phải đọc căng. Còn phụ âm ‘kh’ thì được phát âm như ‘kh’ trong tiếng Việt nhưng là âm bật hơi nên khi phát âm lượng hơi nhiều hơn ‘kh’. Vì những sự khác nhau không rạch ròi như thế này nên sinh viên khó có thể phân biệt chính xác nếu không được nhận thức rõ ngay từ lúc sơ cấp thì thường mắc các lỗi sau:
a) * 개긋하다 => 깨끗하다.
b) * 까장 중요합니다. => 가장 중요합니다.
2.1.2 ㅂ, ㅃ, ㅍ
Cũng giống như sự khác biệt không được rạch ròi giữa các âm bật hơi , âm tắt và âm thường khác, thì ‘ㅂ’ được phát âm gần giống như âm ‘p’ trong tiếng Việt và trầm .Phụ âm ‘ㅃ’ thì được phát âm như ‘b’ trong tiếng Việt nhưng vì là âm bật tắt nên đọc căng và bỏng. Còn phụ âm ‘ㅍ’ thì có cách phát âm giống như âm ‘ph’ trong tiếng Việt nhưng đọc mạnh và hơi nhiều hơn chữ ‘ph’ trong tiếng Việt và bỏng. Vì thế sinh viên thường mắc các lỗi sau:
Ví dụ:
a) * 발리 하세요. => 빨리 하세요.
b) * 살을 뱄어요. => 살을 뺐어요.
c) * 바리에 있어요. => 파리에 있어요.
2.1.3. ㅅ, ㅆ
Phụ âm ‘ㅅ’ có cách phát âm gần giống như ‘x’ nhưng sự cọ xát giữa lưỡi và hàm trên của ‘ㅅ’ ít hơn ‘x’ và bỏng. Còn ‘ㅆ’ cũng có cách phát âm giống ‘x’ nhưng vì là âm tắt nên phát âm căng và bỏng. Vì thế sinh viên dễ mắc các lỗi sau:
Ví dụ:
a) * 스레기 => 쓰레기
b) * 살 수출 => 쌀 수출
2.1.4 ㅈ,ㅉ,ㅊ
Trong tiếng Việt chỉ có âm ‘ch’ nhưng trong tiếng Hàn có cách phát âm giống với ‘ch’ có 3 phụ âm ‘ㅈ’, ‘ㅊ’, ‘ㅉ’. Như đã phân tích ở phần II, thì sinh viên Việt Nam rất khó phân biệt chính xác 3 âm này và dễ mắc các lỗi sau:
Ví dụ:
a) * 쫀경하다 => 존경하다
b) * 자증나다 => 짜증나다.
c) * 저음부터 => 처음부터
2.2. Nhằm lẫn giữa các phụ âm cuối như ‘ㄹ’ , ‘ㄴ ’, ‘ㅇ’
- ‘ㄹ’ trong tiếng Hàn giống với cách phát âm của phụ âm ‘r’ trong tiếng Việt khi đứng ở vị trí phụ âm đầu. Nhưng trong tiếng Việt không có phụ âm cuối là ‘r’ nên khi sinh viên Việt Nam dễ mắc lỗi khi phát âm những từ có phụ âm cuối này.
Ví dụ:
a) *오는 집에 갈 거예요. => 오늘 집에 갈 거예요.
b) 서운 => 서울
- Trong cách phát âm của người miền nam Việt Nam thì phụ âm cuối ‘n’ & ‘ng’ thường lẫn lộn với nhau. Ví dụ khi phát âm chữ ‘lan’ thì nhiều người miền nam Việt Nam phát âm là ‘lang’, do vậy khi phát âm tiếng Hàn cũng dễ bị ảnh hưởng.
Ví dụ:
a) * 좋아하명 얘기해요. =>> 좋아하면 얘기해요.
b) * 재미있능 이야기 => 재미있는 이야기
2.3. Mắc những lỗi phát âm do nguyên tắc biến âm.
Một trong những đặc trưng trong phát âm của tiếng Hàn là nguyên tắc biến âm khi các âm gặp nhau. Ví dụ khi đọc chữ ‘한국말’ thì không đọc theo chữ viết mà bị biến âm thành ‘한궁말’. Và những quy tắc như thế này rất nhiều trong tiếng Hàn nên sinh viên khó có thể thuộc hết tất cả các nguyên tắc này nên dễ gặp những lỗi như sau:
Ví dụ:
a) * 학년 => 항년
b) * 국민 => 궁민
ㅊ)* 결혼하다 => 겨론하다.
3. Ngữ điệu
Trong tiếng Việt có sau thanh điệu nên khi phát âm chỉ cần phát âm đúng với các thanh là được, nhưng trong tiếng Hàn mặc dù không có thanh điệu nhưng có ngữ điệu. Và những ngữ điệu này tùy thuộc vào nội dung, cách thể hiện câu. Vì thế khi sinh viên Việt Nam phát âm tiếng Hàn dễ bị ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ và phát âm lên xuống rất nhiều trong 1 câu. Điều này không thể nói là mắc lỗi mà là phát âm không giống với người Hàn. Vì vậy khi những người Hàn không thường xuyên tiếp xúc với người nước ngoài sẽ rất khó hiểu khi nghe phát âm tiếng Hàn theo kiểu Việt Nam
Ví dụ:
가) 항 ↘↗↘↗
나)유↘↗↘게 못↗↘니다.
III.Phương pháp dạy và học phát âm tiếng Hàn
Dựa vào kết quả phân tích ở trên thì sau đây là một số nguyên tắc và một số phương pháp dạy và học phát âm tiếng Hàn. Để dạy và học tiếng Hàn có hiệu quả trước hết cả người dạy và người học phải thống nhất 1 số nguyên tắc cơ bản sau:
1. Nguyên tắc cơ bản
- Giáo viên phải hiểu rõ sự khác biệt giữa âm trong tiếng Hàn và âm trong tiếng Việt. Phải như thế thì giáo viên mới có thể biết được là người học gặp khó khăn trong phát âm nào để tập trung luyện tập âm đó.
- Và đối với những âm không giống tiếng Việt hoàn toàn thì ngay từ đầu không nên lấy tiếng Việt làm chuẩn mà phải cho sinh viên nghe âm chính xác và lặp lại chính xác. Vì nếu ngay từ đầu người học nhận thức nó bằng âm của tiếng Việt thì rất khó sửa.
- Khi luyện tập thì không nên luyện những âm riêng lẽ mà nên dùng từ có nghĩa mà người học sẽ thường xuyên gặp sau này.
- Đưa ra những quy tắc phát âm và luyện tập các quy tắc này bằng các từ thường dùng.
- Cần phải luyện tập kỹ phát âm ở cấp sơ cấp.
2. Những phương pháp dạy và học nhằm giảm những lỗi phát âm.
2.1 Để giảm lỗi phát âm nguyên âm.
Đối với các lỗi phát âm nguyên âm thì có hai phương pháp sau:
- Đối với những âm có quy tắc như ‘ㅢ’ thì nên giải thích rõ về quy tắc phát âm. Sau đó luyện tập bằng các từ thường dùng, ví dụ như ‘의자’, ‘의사’, ‘의견’, ‘의학’, ‘희망’, ‘강의실’, ‘협의’ ‘선생님의 집’, ‘학생들의 책’ v.v
- Đối với những âm cố định như ‘ㅚ,ㅙ,ㅞ’ thì cho người học học thuộc lòng quy tắc phát âm bằng cách dùng những từ thường dùng. Vì số lượng những từ có những nguyên âm này không nhiều, đặc biệt là ‘ㅙ’ và ‘ㅞ’ nên người dạy có thể lược những từ thường dùng nhất để giúp người học học thuộc. Ví dụ như 최선 다 하겠습니다. , 최 선생님, 외국인,외교관, 외롭다, 외우다, 외모, 외출, 왜?, 왜곡, 웬, 꽃이냐?, 웬만하다, 웨딩v.v.. Nếu người học học thuộc từ như thế này thì không những là mang lại hiệu quả phát âm mà còn giúp người học tự hình thành cho mình một vốn từ vựng.
2.2 Để giảm lỗi phát âm phụ âm
Để giúp người học không mắc những lỗi phụ âm như đã phân tích ở trên thì khi dạy các phụ âm này nên đồng thời giới thiệu về vị trí lưỡi, môi, độ bật hơi, độ căng của những phụ âm này. Ví dụ như khi người dạy dạy cho người học gặp 1 phát âm nào đó thì cần phải giải thích rõ rằng lưỡi nằm ở đâu, hơi ra từ phổi như thế nào, hơi có bị chặng ở đâu không v.v và luyện tập những từ thường dùng trong cuộc sống mà có phát âm đó. Và cũng cần cho người học nghe & nhận thức rõ khi người Hàn phát âm những âm này thì người Hàn phát âm như thế nào.
2.3 Để giảm lỗi phát âm biến âm
Để giảm bớt những lỗi biến âm thì cần cụ thể hóa các quy tắc biến âm và trong từng quy tắc cho những từ thông dụng điển hình để luyện tập. Đặc biệt là cho người học học thuộc mỗi từ 1 quy tắc cũng là cách hay. Vì nếu học thuộc 1 từ như thế khi gặp 1 từ tương tự thì người học sẽ liên tưởng đến từ đã học và sữ dụng. Và còn một quy tắc rất dễ nhận thấy là trong tiếng Hàn không có cách phát âm lên cao theo kiễu dấu sắc và phát âm xuống thấp như dấu huyền trong tiếng Việt, và các từ luôn dựa vào nhau để tạo thành thế quân bình trong 1 từ, vì vậy khi phát âm chú ý điểm này thì sẽ giảm bớt các lỗi phát âm biến âm. Ví dụ kh phát âm từ ‘국민’ nếu phát âm riêng lẽ thì sẽ trở thành ‘국’↗’민’ nhưng nếu giảm bớt độ cao của từ ‘국’ thì sẽ đọc thành ‘궁민’.
2.4 Ngữ điệu
Ngữ điệu của một ngôn ngữ thì chỉ có những người dùng tiếng mẹ đẻ từ nhỏ nên mới có thể có một ngữ điệu tự nhiên, vì thế đối với người nước ngoài không thể tiếp nhận và thành thục trong một ngày một bữa mà cần phải có sự luyện tập và bắt chước theo những người sử dụng ngôn ngữ đó như tiếng mẹ đẻ.
Trước hết cần phải giúp cho người học nhận thức những ngữ điệu cơ bản của tiếng Hàn và bắt chước đọc như người Hàn. Sau đó cho người học ghi âm lại phần phát âm của mình và so sánh với phần phát âm của người Hàn sẽ giúp cho người học nhận thấy lỗi phát âm của mình hay sự khác biệt giữa phần phát âm của mình và người Hàn. Để từ đó người học tự rút ra cho mình một kinh nghiêm để luyện ngữ điệu.
3. Những hoạt động để luyện phát âm tùy theo trình độ của người học.
3.1 Đối với năm I
3.1.1 Luyện tập những nguyên và phụ âm cơ bản
- Dùng tên của học viên để luyện phát âm, vì như thế người học cảm thấy thú vị khi luyện tập tên của mình.
- Dùng những từ thường dùng trong cuộc sống hàng ngày để luyện tập. Và không nên làm cho học viên cảm thấy tiếng Hàn là một thứ tiếng vô cùng khó, mà phải làm cho học viên cảm thấy tiếng Hàn thú vị. Ví dụ như học viên sẽ luyện tập các chữ như 학생, 교수, 가수, 기숙사, 대사관, 주의…
3.1.2 Thông qua các trò chơi để luyện tập âm thường, âm tắt và âm bật hơi.
- Chia các nhóm ra để tham gia trò chơi. Dùng 1 trang giấy có rất nhiều từ có chứa âm thường, âm tắt và âm bật hơi. Sau đó 1 nhóm sẽ đọc và các nhóm khác đánh vào. Giáo viên kiểm tra xem nhón đọc có đọc đúng không hay nhóm chọn có chọn đúng âm đã được đọc chưa.
- Chia nhóm ra và giáo viên phát cho mỗi nhóm những tờ giấy có chứa các từ có âm thường, âm tắt và âm bật hơi, sau đó giáo viên phát âm, nhóm nào giơ đúng từ đã được phát âm sớm nhất sẽ chiến thắng.
- Thông qua những phương pháp như thế này người họcc vừa tự kiểm tra mình và vừa được đánh giá người khác. Vì thế người học sẽ cảm thấy thú vị khi tham gia trò chơi như thế sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn.
3.2 Năm II
3.2.1 Luyện phát âm thông qua hoạt động nhóm
3.2.2 Luyện tập phát âm theo phim
IV. Kết luận
Phát âm là phần quan trọng cần phải hiểu rõ và luyện tập kỹ ngay từ đầu. Vì ở trình độ sơ cấp người học chưa có nhiều kiến thức về tiếng Hàn nên không cần mất thời gian để luyện ngữ pháp hay những kỹ năng khác mà phải luyện phát âm thật chính xác. Giống như việc trẻ con bắt đầu học nói thì điều đầu tiên chúng ta dạy cho trẻ con là phát âm đúng và nói theo người lớn, vì thế việc dạy các lớp sơ cấp cần phải xoáy mạnh vào phát âm. Đặc biệt nên dùng những từ có thể gây sự thích thú của học viên, ví dụ như dùng từ có âm Hán Hàn giống với âm Hán Việt để luyện tập, hoặc dùng những từ mà người học có thể dùng được trong cuộc sống hàng ngày, ví dụ như số đếm v.v Điều quan trọng là phải giúp người học có thói quen bắt chước giống như người bản xứ. Và điều cần thiết nhất ở người dạy là hiểu biết về những quy tắc phát âm, hiểu rõ sự khác biệt giữa âm tiếng Hàn và tiếng Việt.

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2022

THUYẾT TRÌNH

 

본론으로 들어가다: đi thẳng vào vấn đề chính, dùng khi bạn muốn nói thẳng vấn đề hoặc đề nghị người khác nói thẳng vấn đề
안녕하세요. 바로 본론으로 들어가겠습니다 Xin chào tôi xin phép đi luôn vào vấn đề chính.
시간이 많지 않아서 본론으로 바로 들어가겠습니다. Không có nhiều thời gian nên tôi muốn đi thẳng vấn đề chính.
여러분, 왜 우리가 여기에 모였는지 다들 아실 텐데 그래서 본론으로 들어가겠습니다. Các bạn chắc là đều đã biết lý do chúng ta tập trung ở đây nên tôi xin phép vào thẳng vấn đề.
말을 돌리지 않고 본론을 말하시오 Đừng vòng vo nữa hãy nói thẳng đi.
Ngoài ra còn có những biểu hiện khác đề nghị nói thẳng vấn đề:
- 요점만 말하자: nói điều quan trọng đi
- 용건만 말하자: nói thẳng mục đích đi
- 핵심만 말하자: nói điểm chính đi
- 단도직입적으로 말할게: tôi sẽ nói thẳng