Thứ Hai, 24 tháng 7, 2023

[PHÂN BIỆT -는지 VÀ -ㄴ/은 지]

 <Chuyên mục Giáo dục tiếng Hàn - Thứ Hai hàng tuần>

[PHÂN BIỆT -는지 VÀ -ㄴ/은 지]
Ngữ pháp A/V+ (으)ㄴ/는지 và V+(으)ㄴ 지 chắc có lẽ nhiều bạn đã học qua, nhưng có bao giờ các bạn bị nhầm lẫn giữa -는지 viết liền và -ㄴ/은 지có dấu cách ở giữa chưa?
chỉ khác nhau ở mỗi dấu cách nhưng 2 ngữ pháp này lại có ý nghĩa rất khác đấy. Vậy thìhôm nay chúng ta cùng phân tích điểm khác nhau của chúng nhé!
a/ Ngữ pháp V+(으)ㄴ 지
Ngữ pháp (으)ㄴ 지 đi với động từ, dùng để diễn tả một khoảng thời gian trải qua kể từ khi thực hiện một hành động nào đó, ta có thể dịch nôm na là “làm một việc gì đó mất bao lâu rồi”. Sau nó thường đi với 되다, 넘다.
Ví dụ:
- 강아지를 기른 지 10년 됐어요. Tôi đã nuôi một con cho được 10 năm rồi.
- 한국에서 산 지 25년 됐어요. Tôi đã sống ở Hàn Quốc được 25 năm rồi
b/ Ngữ pháp A/V+ (으)ㄴ/는지
Có thể đặt ~ 는지 sau động từ hoặc tính từ trong một mệnh đề, để chỉ ra rằng mệnh đề đó là một dạng phỏng đoán, câu hỏi hoặc sự không chắc chắn. Cấu trúc này dùng để diễn tả nghi vấn và thường kết hợp với các đại từ nghi vấn.
Ví dụ:
- 저는 친구가 어디 가는지 모르겠어요. Tôi không biết bạn tôi đi đâu.
- 내일 영화를 볼지 안 볼지 모르겠어요. Tôi không biết ngày mai tối liệu có đi xem phim được hay không.
Qua bài viết ngắn gọn này các bạn sẽ hiểu hơn về 2 ngữ pháp này nhé!
Hãy cùng chờ đợi và đón xem những bài viết tiếp theo của Thư viện Hàn Quốc Học các bạn
nhé!

Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2023

CÂU CHUYỆN BIÊN PHIÊN DỊCH

 Bác Vũ Khoan.

-----
Năm 98 vào Bộ, cuộc phiên dịch đầu tiên của OM là dịch cuộc bác Khoan tiếp Đại sứ Hàn Quốc Cho Won Il (조원일). Buổi dịch ấy có rất nhiều vấn đề.
Sau cuộc tiếp, bác ấy bảo: cháu đang thiếu từ chuyên ngành, cần bổ sung. Lấy báo Nhân dân đọc rồi dịch sang. Dịch được báo Nhân dân là đạt 90% yêu cầu. Đừng chép lời, chỉ ghi lại từ khoá, gọi là take-note. Cứ ngắt lời nếu thấy người bên mình nói dài quá. Không hiểu thì hỏi lại, đừng bỏ, cấm bịa. Phải thế, ổn rồi thì mới lên dịch cấp cao được. Khi dịch, đừng quan trọng quá ai đang ngồi quanh, sẽ bị tâm lý.
Đấy là những bổ túc đầu tiên về việc phiên dịch. Dịch cho bác ấy thích vì bác ấy cũng từ phiên dịch đi lên, hiểu và kinh nghiệm. Câu chữ nói ngắn, rõ và không lặp ý. Cái này nhiều lãnh đạo không làm được.
Bác Khoan cũng là người hay chữa câu chữ. Bác ấy là người nhắc về sự khác biệt giữa "bảo đảm" và "đảm bảo" và đối với an ninh, an toàn, lợi ích thì chỉ có bảo đảm chứ không có đảm bảo. Hay có lần bác ấy khoanh khuyên đỏ to chữ "bàng quang" trong 1 tờ trình và viết "tôi nói nhiều lần rồi. 'bàng quan' là thờ ơ, còn 'bàng quang' là bọng đái".
Hồi bác Khoan thăm Triều Tiên, đoàn ở khách sạn Koryo. Trước khi Đoàn về, Đại sứ Đỗ Thị Hoà và anh em Đsq ra thăm Đoàn. Ngồi có 1 tiếng, bác ấy vừa nghe Đại sứ báo cáo, vừa hỏi thăm tình hình anh em, sở tại, vừa sửa báo cáo chuyến thăm. Xong 1 tiếng cũng là xong tất cả. Báo cáo dài vài trang bị sửa chi chít với chữ và các đường mũi tên, gạch ngang, hoa thị, dấu X...Hồi ấy thấy cực kỳ ấn tượng với khả năng phân tâm, đa nhiệm của bác ấy.
Sau này thích nghe bác ấy nói chuyện. Chẳng giấy bút gì nhiều mà vẫn mạch lạc, rõ ý và súc tích. Có lần dự Hội nghị, cỡ hơn 10 diễn giả nói đủ thứ. Bác ấy bảo, hơn 2 tiếng vừa rồi có nhiều ý nhưng tôi tóm lại có 4 ý sau. Một là, hai là, ba là, bốn là...Đúng là 4 ý ấy tóm lược đủ hết và chỉ trong 10 phút. Đấy là khả năng tổng hợp và tóm tắt, một kỹ năng mà nhiều cán bộ của Bộ hiện nay vẫn yếu.
Bác Khoan mất, có người than biết bao giờ mới có người lỗi lạc như thế. OM nghĩ đấy là cảm thán quá mức. Hiện vẫn có và không ít. Nhưng so với nhiều người tài ấy thì bác Khoan là người hay chia sẻ cho hậu bối các kiến thức và kỹ năng hơn cả. Thế nên ở BNG có một kiểu lớp gọi là Lớp VK tức Lớp Vũ Khoan. Với sự ủng hộ của Bộ Ngoại giao, bác Khoan cùng Học viện Ngoại giao lập ra lớp này để bổ túc kỹ năng đối ngoại và nghiệp vụ cho các cán bộ, trực tiếp cùng giáo viên đứng lớp. Lớp VK trở thành thương hiệu và chắc vẫn còn.
Những điều hay khác, mọi người kể nhiều rồi, không nhắc lại nữa. Bác ấy chắc không biết OM là ai nhưng bác ấy là Thứ trưởng phụ trách đầu tiên của OM khi bắt đầu sự nghiệp ở BNG.

Thứ Tư, 21 tháng 6, 2023

từ cựng thương mại

 원산지증명서: chứng nhận xuất xứ

납세증명서/납세필증: giấy chứng nhận nộp thuế
수입/수출허가증: giấy phép xuất/nhập khẩu


Thứ Năm, 18 tháng 5, 2023

TỪ VỰNG

 Từ vựng liên quan đến thích ứng văn hóa

어려움을 겪다: Gặp khó khăn.
적응이 안 되다: Không thích ứng được.
오해하다: Hiểu lầm.
실수를 하다: Gây lỗi
실례가 되다: Thất lễ
착각하다: Nhầm lẫn
낯설다: Lạ lẫm, chưa quen
실수를 안 하다: Không gây lỗi, sai sót
적응하다: Thích ứng
습관이 되다: Thành thói quen
두 손으로 드리다/받다: Đưa/nhận bằng 2 tay
고개를 돌리고 술을 마시다: Quay đầu và uống rượu
허리를 굽혀 인사하다: Cúi lưng chào hỏi
높임말을 사용하다: Sử dụng kính ngữ
무릎을 꿇고 앉다: ngồi Gập gối (ngồi quỳ)
책상다리를 하고 앉다: Ngồi khoanh chân
어른이 숟가락을 드신 후에 밥을 먹다 : Sau khi người lớn cầm thìa lên mới ăn
식탁에 밥그릇을 놓고 먹다: Đặt bát lên bàn ăn
버스나 지하철에서 자리를 양보하다: Nhường chỗ trên tàu điện ngầm hoặc xe buýt
어른 앞에서 담배를 피우지 않다: Không hút thuốc trước mặt người lớn.
❤Nguồn : Châu Thùy Trang

TỪ VỰNG NHÀ HÀNG








Thứ Bảy, 13 tháng 5, 2023

TỪ VỰNG CẢM XÚC

 감정의 언어 Ngôn ngữ của cảm xúc

Khi ăn món ăn ngon hay khi ôm thú cưng của mình vào lòng chúng ta 행복을 느끼다 cảm thấy hạnh phúc. Khi tình cờ gặp crush trên đường ta sẽ cảm thấy 가슴이 쿵쾅쿵쾅 tim đập thình thịch, 얼굴이 발그레 mặt ửng đỏ, 손가락 끝이 덜덜 ngón tay run rẩy. Một ngày chúng ta trải qua biết bao rung động cảm xúc 감정의 요동을 겪다. Tùy vào kích thích bên ngoài mà 행복과 우울, 분노와 안심, 기쁨과 불안이 시시때때로 교차한다 cảm xúc đan xen giữa hạnh phúc và trầm uất, phẫn nộ và an tâm, vui vẻ và bất an.
Ngoài các từ chỉ cảm xúc trực tiếp như 외롭다, 부끄럽다, 슬프다, còn cách biểu hiện ẩn dụ về cơ thể như 이가 갈리다 (nghiến răng – tức gận), 등골이 서늘하다 (sống lưng lạnh – sợ hãi), 낯간지럽다 (mặt ngứa – xấu hổ), 눈앞이 깜깜하다 (trước mắt tối đen – tuyệt vọng), 눈시울을 붉히다 (làm tròng mắt đỏ ngầu – buồn). Ngoài ra cũng có ẩn dụ về sự vật như dùng 사랑에 빠지다 (rơi vào tình yêu), 사랑을 쏟다 (trút tình yêu), 사랑이 넘치다 (tình yêu đong đầy) so sánh tình yêu với nước (chất lỏng). Và các cảm xúc khác cũng được ẩn dụ hóa như nước ví dụ 화가 부글부글 끓어오르다 (sự giận dữ sôi sình sịch), 긴장감이 넘치다 (sự căng thẳng tràn đầy), 슬픔에 잠기다 (chìm vào nỗi buồn).
Có lúc từ 감정 (cảm xúc) được sử dụng với nghĩa trung lập nhưng cũng có lúc kết hợp 감정에 휘말리다 (cuốn theo cảm xúc), 감정을 터뜨리다 (bùng nổ cảm xúc), 감정이 섞이다 (lẫn lộn cảm xúc) để miêu tả cảm xúc tiêu cực như 화 tức giận, 원망 oán hận, 불안 bất an, 미련 luyến tiếc.

Thứ Tư, 10 tháng 5, 2023

HÔ ỨNG PHÓ TỪ VỚI NGỮ PHÁP

 1. 만약, 만일: nhỡ như, nếu như + (으)면 * ㄴ/는다면

내가 만약 공부를 좀 더 잘했다면 좋은 대학에 갈 수 있었을 텐데.

Giả như mình chịu học chăm thêm một chút thì vào được trường đại học tốt rồi.

2. 혹시: không chừng, giả sử, lỡ đâu + (으)면 * 아/어도 * 더라도

이번 주 토요일에 혹시 시간 괜찮으면 영화 보러 안 갈래?

Thứ 7 tuần này giả dụ mà có thời gian bạn có muốn đi xem phim không?

3. 비록: mặc dù, cho dù + 더라도 * (으)ㄹ 지라도

비록 지금의 현실이 가혹하더라도 절대 꿈을 잃지 마십시오.

Cho dù hiện tại hiện thực có khắc nghiệt đi chăng nữa tuyệt đối đừng đánh mất ước mơ.

4. 아무리: cho dù, dù như thế + 아/어도

상대방 전화기가 고장났는지 아무리 걸어도 신호가 가지 않는다.

Không biết người kia điện thoại hỏng hay sao cho dù gọi thế nào cũng không có tín hiệu.

5. 어찌나 sao mà, 얼마나 biết bao nhiêu + -(으)ㄴ/는지

갓난쟁이가 힘이 어찌나 좋은지 울음소리가 쩌렁쩌렁해요.

Đứa trẻ mới sinh này sao mà sức khỏe thế tiếng khóc cứ oang oang.

이야기만 들어도 도니가 얼마나 괴롭고 힘들지 가히 짐작할 수 있었다.

Chỉ nghe nói thôi cũng có thể đoán được Toni phải chịu gian khổ và vất vả biết bao nhiêu.

6. 왜냐하면 bởi vì, tại vì + 기때문이다

나는 어제 학교에 지각을 했다. 왜냐하면 아침에 늦게 일어났기 때문이다.

Hôm qua mình tới trường muộn. Bởi vì sao là vì buổi sáng dậy muộn.

7. 단지, 다만 Duy chỉ, chỉ riêng + (으)ㄹ 뿐이다 * (으)ㄹ 따름이다

아무도 자신의 의견을 제시하려고 하지 않았다. 단지 침묵만이 있을 뿐이었다.

Không ai có ý định đưa ra ý kiến cá nhân cả. Chỉ có sự im lặng.

8. 점점: dần dần, từ từ + 아/어지다 *  게 되다

이번 프로젝트의 진행이 점점 느려지는 것 같군요.

Tiến độ thực hiện dự án này hình như đang dần chậm lại.

9. 꼭, 반드시 nhất định + 아/어야 하다 * 지 않으면 안되다

아버지가 뭐라고 하셔도 저는 이 결혼  해야 하겠습니다.

Dù cha tôi có nói gì đi nữa, nhất định tôi sẽ phải kết hôn với người đó.

10. 꼭, 반드시 nhất định, chắc chắn + (으)ㄹ 필요는 없다

가: 네가  희생할 필요는 없어.

Cậu không cần thiết phải hi sinh.

나: 남아로서 큰일을 위해서 이 정도는 해야 한다고 생각해.

Tôi nghĩ rồi là thằng đàn ông vì nghiệp lớn phải làm đến mức đó.

11. 마치 như, hệt như + (으)ㄴ/는  것 같다 *  (으)ㄴ/는 듯 하다

아름다운 그녀는 마치 천사와 같다.

Cô ấy đẹp như một thiên thần

12. 결국: kết cục, rốt cục + 고 말다

김 씨는 사업이 망한 후 노숙자 생활을 하다 결국 길에서 객사하고 말았다.

Ông Kim sau khi công việc kinh doanh sụp đổ đã lang thang vô gia cư cuối cùng chết trên đường phố.

13. 과연 quả nhiên + (으)ㄹ까? *  (으)ㄴ가? * 는가?

과연 회사에서 나 같은 사람을 뽑아 줄까?

Quả nhiên(có đúng là) công ty sẽ chọn người như tôi?

14. 아마, 아마도 có lẽ + (으)ㄹ 것이다 * (으)ㄹ 것 같다

아마 네가 개정되기 전의 책을 읽은 것 같다.

Có lẽ bạn đọc cuốn sách đó trước khi nó được tái bản(đọc phiên bản cũ)

15. 이미, 벌써 gần như, mới đó + 았/었다

벌써 가판을 마치고 인쇄 작업에 들어갔습니다.

Mới đó đã xong bản in và đã đưa vào bắt đầu in ấn.

사람들은 회사의 정식 명칭 대신 가칭돼서 불리던 이름에 이미 익숙해졌다.

Mọi người đã gần như quen gọi công ty với cái tên tạm thời thay vì tên chính thức của công ty.

17. 하마터면 suýt, gần như + (으)ㄹ 뻔하다

내가 집에 일찍 왔기에 망정이지 하마터면 집에 불이 날 뻔했다.

May mà tôi về nhà sớm chứ không thì suýt nữa cháy nhà.


Bài viết tạm dừng tại đây. Nếu bạn có thời gian mời các bạn xem tiếp trong bài 200 từ vựng phó từ(trạng từ) tiếng Hàn thông dụng. Hoặc xem một số bài viết khác phía bên dưới nhé các bạn.

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2023

TIẾNG HÀN HÀNG NGÀY

 <Chuyên mục Giáo dục tiếng Hàn - Thứ Hai hàng tuần>

[낙하산 - CON ÔNG CHÁU CHA]
Xin chào mọi người. Quay trở lại với chuyên mục tuần này, team Giáo dục tiếng Hàn sẽ giới thiệu đến các bạn về biểu hiện “CÔCC” (aka “Con Ông Cháu Cha”) trong tiếng Hàn sẽ là gì nhé! Lấy bút giấy ra ghi chép lại biểu hiện này để khi cần “nói xấu” ai đó thì khui ra thôi nào.
• 딱 보면 모르겠니? 낙하산이지~ (Nhìn mà không biết à? Con ông cháu cha đấy~)
낙한산 có nghĩa đen là “dù” trong hoạt động nhảy dù (parachute): 낙하산을 타다 (nhảy dù), 낙하산을 펼치다 (mở dù).
Tuy nhiên đây còn là một cách nói ẩn dụ, ám chỉ “con ông cháu cha” trong tiếng Hàn:
• 걔는 낙하산이야. (Nó là con ông cháu cha đấy!)
• 회사에 낙하산으로 들어오다. (Hắn vào công ty bằng ô dù)
• 새로 온 부장 얘기 들었어? 사장님 조카래! (Nghe chuyện về Trưởng phòng mới vào chưa, thấy bảo là cháu của Giám đốc đấy!)
• ~아, 그럼 낙하산 타고 부장이 된거네! (Ô, thế ra là CÔCC nên mới lên được chức Trưởng phòng nhỉ!)
Vào năm 2010, con gái Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại Hàn Quốc Yoo Myung Hwan được trúng tuyển vào ngạch Công chức bậc V đã dấy lên ồn ào về quá trình tuyển dụng không minh bạch và vụ việc này đã cho ra đời một thuật ngữ mới tương đương nghĩa là “똥 돼지” tức “흑돼지” (lợn đen, lợn đất), ý chỉ những chú heo lười biếng, không tài cán gì cả ngày chỉ đợi được cho ăn. Giới trẻ thậm chí còn dùng cả “돼지 가족” (gia đình nhà heo) để chỉ cả hệ thống gia đình được tuyển dụng và thăng tiến nhờ vào mối quan hệ ô dù).
Trên Twitter từng có những post than vãn như thế này:
중소기업 특히 전자회사들은 똥돼지들로 넘쳐난다 업무능력은 없으• 면서 월급은 일반직원에 10배 가까이 받는 똥돼지들도 많다. (Trong các công ty Vừa và Nhỏ đặc biệt là mảng Điện tử đang tràn ngập những chú lợn đất như thế này, không có năng lực mà lương thì cao gấp 10 lần nhân viên bình thường!)
• 알아보니 대표이사 먼 조카래요! (Tìm hiểu rồi mới biết là cháu họ xa của Giám đốc!)
Những quá trình tuyển dụng qua mối quan hệ quen biết, cùng điểm chung như chọn người cùng huyết thống, cùng quê, cùng trường học cũ cũng cho ra những thuật ngữ như: 학연 (đồng môn - cùng trường), 지연 (cùng quê), 혈연 (cùng họ).
Để ngăn chặn những hành vi tiêu cực trong tuyển dụng như thế này, ở Hàn Quốc đã bắt đầu phổ biến quy trình tuyển dụng 블라인드 채용 (tuyển dụng mù - không khai các thông tin cá nhân như trường học, quê hương... vào hồ sơ xin việc).
Nguồn: Tiếng Hàn Mi Yeon
Link album team Giáo dục tiếng Hàn: https://www.facebook.com/media/set/...
- Team Giáo dục tiếng Hàn -

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2023

Tiêu đề báo

 

Lao động thời vụ... vừa sang chưa được bao lâu, trong hơn một tuần đã có 3 người bỏ trốn

무단이탈: bỏ trốn chưa được cho phép
; đào tẩu

Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

Quốc tân # Quốc

 Dùng "Quốc khách" có đúng không?

1. Trong tiếng Việt, có hai từ chỉ khách là "khách" và "tân", cùng là từ Hán - Việt. "Khách" viết là 客 và "Tân" viết là 賓. Tuy cùng chỉ khách khứa nhưng cách dùng khác nhau.
"Khách" (客) vốn là đối nghĩa với chủ, tức là ai đó không phải chủ nhà. Một người khác đến nhà gọi là khách nhưng là khách đến không do mời. Có thể là đi ngang rẽ vào. Khách sạn chính là nơi cho khách đi đường tự vào thuê phòng ở vậy.
"Tân" (賓) thì khác. Cũng là khách nhưng là khách do chủ mời đến, hoặc dù không mời mà đến nhưng là người mình mong, mình quý, họ tự đến mình cũng trọng thị đón tiếp.
Chữ "tân" có vẻ là khá lạ lẫm với người Việt ta, nhiều khi lại chỉ biết tân là mới. Chữ tân - khách này ta hay dùng chữ "lễ tân" chính là chỉ sự lễ, quy trình đối đãi với khách, tiếp tân là tiếp khách vậy. Chú ý là tiếp tân chỉ là 1 khâu cực nhỏ trong quy trình lễ tân thôi.
2. Xét về mức độ thì "khách" là khách thường, "tân" mới là khách quý.
Cái ý này có chiết tự vui là:
Chữ Tân(賓) là gồm bộ Miên - nhà "宀", chữ Thiếu - ít (少) và chữ Bối - của cải (貝) tạo thành. Ý là ngôi nhà ít của nả có khách mang tài vận đến. Thế là khách quý.
Còn chữ Khách (客) là gồm chữ Các - mỗi (各) và chữ Tri -theo (夂) và Khẩu - miệng(口) hợp lại mà thành. Ý là khách vác mỗi cái mồm đến, tốn cơm tốn bát.
Phòng tiếp khách, cho khách ở cũng theo đó mà phân biệt. Phòng cho khách ở thì có khách phòng (客房) và tân phòng (賓房), phòng tiếp khách thì có khách thất (客室) và tân thất (賓室). Triêu Tiên, Hàn Quốc không dùng từ tân phòng (賓房, 빈방) vì nó đồng âm với từ phòng trống không người (빈房).
3. Khách đến thăm nước ta đều do ta mời, và đều là khách quý cả. Do vậy, ta phải dùng chữ "Tân", dùng đầy đủ là "Quốc tân" (國賓). Tất cả các nước dùng chữ Hán, từ Hán đều dùng chữ Quốc tân này. Triêu, Hàn gọi là 국빈.
Chữ "quốc" (國) là chỉ cấp Nhà nước. Thế nên có chữ "quốc" rồi thì tuyệt đối không phải đối tượng không mời mà đến, càng không phải khách thường. Không có cái gọi là "Quốc khách".
=> Do vậy, cứ nói nôm na là vị khách đầu tiên của Chủ tịch nước, hoặc thích nói chữ thì nói là vị quốc tân đầu tiên của Chủ tịch nước.
https://www.facebook.com/chuc.duong.71/posts/pfbid0TtKfG2QG6KhhWovDU3rYH8ZR7RnSGAzW6zBh6WbNNjdhAJj3kKdzWQzFCD9k5zxLl

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

VIẾT 54

 

⭕️ Nguyên tắc: BÁM SÁT CÂU HỎI ĐỀ BÀI
Đề bài thường sẽ đưa ra 3 câu hỏi, tương ứng với 3 đoạn: Mở, Thân, Kết. Bám sát 3 câu hỏi này sẽ giúp thí sinh hình dung rõ bố cục và nội dung từng đoạn, tránh lạc đề và tiết kiệm thời gian.

CÂU HỎI 1 - Mở bài: 1.창의력은 중요한 이유는 무엇인가?
Ở đây, cách triển khai ý nhanh nhất là đưa ra định nghĩa của bản thân về 창의력 và nêu lý do vì sao nó quan trọng. Nên gói gọn trong 5 dòng đầu của 원고지, thời gian tối đa 3p.
-VD tham khảo:
✍🏻 Cơ bản: 창의력이란 새로운 생각을 해내는 힘이다. 그렇기 때문에 경제, 정치, 사회, 과학 기술 등 모든 분야 발전에 창의력은 항상 중요한 역할을 한다.
✍🏻 Nâng cao: 창의력은 가치있고 실현 가능한 독창적 사고나 산출물로서 문제를 해결할 수 있는 능력이라고 할 수 있다. 따사서 창의력은 미래를 지향하는 사회 및 국가발전의 원동력으로 우리 삶의 질을 향상시키는 데 직접적인 영향을 준다는 점에서 중요성이 크다고 본다.

CÂU HỎI 2 - Thân bài: 창의력을 발휘했을 때 얻을 수 있는 성과는 무엇인가?
Với câu hỏi này, thí sinh nên đưa ra 3 luận điểm nếu không thể đi sâu phân tích. Ngược lại thì chỉ cần 2 luận điểm là đủ. Thời gian tối đa cho cả đoạn là 12p.
-VD tham khảo: 창의력을 발휘하면 다음과 같은 3가지 성과를 얻을 수 있다고 생각한다.1️⃣ 먼저 삶의 질과 수준의 향상에 도움이 될 것이다. 창의력이 새로운 혁신을 만들고 이 새로운 혁신이 기존 문제들을 해결할 수 있으면 실제에 적용되어 우리 삶의 질과 수준이 향상되기 마련이다.2️⃣ 또한 창의력은 변화의 시작을 형성한다. 생활 수준을 향상시키는 것 외에 창의력은 사회의 새로운 변화를 시작하는 데 유용하다. 창의력의 결과는 새롭고 이전에 없었던 아이디어, 기술 및 결과물이기 때문이다.3️⃣ 마지막으로 창의적인 생각이 습관화되면 사업의 성공을 이끌어낼 수 있다. 경쟁이 치열한 산업사회에서 기업이나 사업이 성공하려면 창의력이 넘치는 사람이 없어서는 안 된다. 이유는 창의적인 아이디어 및 방식으로 실제 수요에 부응하면서 기업 또는 사업의 특색을 살려야 수많은 경쟁사를 이길 수 있기 때문이다.

CÂU HỎI 3 - Kết bài: 창의력은 발휘할 수 있는 방법은 무엇인가?
Liệt kê 3-4 hoạt động trong đời sống hàng ngày mà bạn nghĩ giúp ích cho khả năng sáng tạo. Kết bài có thể viết ngắn hoặc dài tùy theo số dòng còn lại trong 원고지. Nếu thấy Mở bài, Thân bài hơi ngắn, thí sinh có thể liệt kê thêm nhiều hoạt động. Trong trường hợp này, độ dài của Kết bài có thể bằng hoặc dài hơn Thân bài ở trên. Thời gian tối đa cho cả đoạn là 10p.
-VD: 일상생활에서 창의력을 발휘할 수 있는 활동/방법이 참으로 많다. 1️⃣ 그 중에서 독서 습관을 중요하게 생각한다. 다양한 장르와 스타일의 책을 선택하여 시야를 넓히면 창의력도 강화하게 되기 때문이다.2️⃣ 또한 새로운 취미를 찾는 것도 창의력을 발휘하는 데 좋은 방법이다. 자극이 되는 새로운 상황과 마주했을 때 생각은 스스로 확장되어 창의력을 발휘하게 된다. 도전해 볼 수 있는 활동으로는 사진 강좌, 새로운 악기 배우기, 어려운 요리 레시피 도전하기 등이 있다.3️⃣ 그 외에 참신한 아이디어를 생각하도록 하는 두뇌훈련 활동이나 게임을 자주 하는 것도 좋다. 예를 들어, 두 단어를 적어 연상 게임을 할 수 있다. 비유를 사용하여 겉보기에 서로 다른 두 가지 사이의 유사점을 찾아서 각각의 연관성을 분석하고 조사하는 것이다. ➡️ 이렇게 다양한 방법으로 계속 하다 보면 생활 방식을 변경하여 창의력을 향상시키는 데 효과가 분명히 있을 것이라고 본다.

☝🏼Lưu ý: Vừa viết vừa để ý lỗi chính tả, 뛰어쓰기 chuẩn trong 원고지. Luôn kết thúc câu bằng đuôi văn Viết: Động từ + 는다/ㄴ다 ; Tính từ + 다.

Phần thi Viết bao giờ cũng là phần khó với nhiều người. Để bài Viết đạt điểm cao, cần chú ý nguyên tắc cơ bản và phân bổ thời gian hợp lý, tránh trường hợp 'đầu voi đuôi chuột', Mở bài rất hay nhưng không có thời gian để viết nốt Thân & Kết bài. 
Ẩn bớt